Phần một: Hướng dẫn nội dung ôn tập-Phần văn học-Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)

Nguồn website dethi123.com

I. NỘI DUNG TRỌNG T M CẦN ÔN TẬP 1. Tác giả, tác phẩm a) Tác giả Nguyễn Trung Thành (bút danh khác là Nguyễn Ngọc) tên khai sinh là Nguyễn Văn Báu. Ông sinh năm 1932 ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Năm 1950 khi đang học trung học, Nguyễn Trung Thành xin gia nhập quân đội, sau một thời gian ở đơn vị chiến đấu, ông được chuyển làm phóng viên báo Quân đội nhân dân ở Liên khu V. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tập kết ra Bắc; năm 1962, ông trở về miền Nam chiến đấu, làm Chủ tịch Chi hội Văn nghệ Giải phóng miền Trung Trung Bộ, đồng thời phụ trách tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, nhà văn chủ yếu gắn bó với chiến trường Tây Nguyên. Những thành công lớn nhất trong sự nghiệp văn học của ông cũng gắn với mảnh đất ấy. | b) Tác phẩm – Truyện Rừng xà nu được viết năm 1965 khi giặc Mĩ đổ quân ào ạt vào bãi biển Chu Lai – Quảng Ngãi. Rất nhiều người đã chứng kiến cuộc đổ quân ấy của Mĩ và đều biết rằng dân tộc ta đang đụng đầu với một kẻ thù hung bạo, ghê gớm nhất. Nguyễn Trung Thành lúc này đang công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ. Theo gợi ý của một số bạn văn, ông định viết một bài “Hịch tướng sĩ thời chống Mĩ để động viên, cổ động nhân dân bước vào cuộc kháng chiến cứu nước gian khổ. Ông bắt tay viết truyện ngắn mang tính chất “hịch” ấy. Và cánh rừng xà nu ở miền tây Thừa Thiên đã gợi tứ cho ông, thúc giục ông. Tác giả cho biết: đêm đêm hình ảnh cây xà nu cứ như sắp hàng thẳng tắp trước mặt ông như thúc giục đòi ra trận… và ông đã viết Rừng xà nu trong hoàn cảnh ấy. | “Hồi tháng 5 năm 1962, hành quân từ miền Bắc vào, tôi cùng đi với anh Nguyễn Thi […] đến đêm chia tay mỗi người về chiến trường của mình là khu rừng bát ngát phía tây Thừa Thiên giáp Lào. Đó là một khu rừng xà nu tít tắp tận chân trời. Tôi yêu say mê cây xà nu từ ngày đó. Ấy là một thứ cây hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch, mỗi cây cao vút, vạm vỡ, ứa nhựa, tán lá vừa thanh nhã vừa rắn rỏi mênh mông”. (Nguyên Ngọc, Về truyện ngắn “Rừng xà nu”, dẫn theo Hà Minh Đức, Nhà văn nói về tác phẩm, NXB Giáo dục, 2000, tr. 97) – Tác phẩm được đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ, số 2- 1965, sau đó được in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc. 2. Nội dung, nghệ thuật * Rừng xà nu là câu chuyện kể về làng Xô Man theo Đảng, theo cách mạng đến cùng. Nhân vật trong truyện thuộc nhiều thế hệ: cụ Mết – Tnú – Mai – Dít – bé Heng,… Trong giai đoạn kẻ thù hung hãn, tàn bạo đến tột cùng, họ đã nổi dậy như | một sự bùng nổ, châm ngòi cho cả biển lửa miền Nam đứng lên “đồng khởi”. – Rừng xà nu có hai lớp truyện: + Truyện về một rừng cây xà nu không có cây nào không bị thương vì đạn đại bác, có cây ngã gục nhưng rừng xà nu vẫn “ưỡn tấm ngực lớn” của mình ra che chở cho làng Xô Man. + Truyện về những lớp người Xô Man tiếp nối nhau chiến đấu để bảo vệ quê hương, đất nước. | Đặc sắc của truyện là nghệ thuật chuyện lồng trong chuyện: chuyện của cụ Mết bên bếp lửa và chuyện Tnú về thăm làng. Hai câu chuyện đan cài, hoà quyện làm cho tác phẩm đậm màu sắc sử thi. – Về hình tượng cây xà nu: | Truyện mở đầu bằng hình ảnh rừng xà nu: “Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc. Chúng nó bắn, đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy. Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn. Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão. Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyền thành từng cục máu lớn”. Đúng là hình ảnh của đau thương và bi tráng. Đến cuối truyện, hình ảnh rừng xà nu trở lại với những cây non mới mọc “nhọn hoắt như những mũi lê” và một rừng xà nu tiếp tục trải ra mênh mông bát ngát “Đến hút tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời”. Sự lặp lại trong cấu trúc và trong cách miêu tả rừng xà nu chính là dụng ý nghệ thuật của nhà văn. Không chỉ trong đoạn đầu và cuối tác phẩm, dõi theo toàn bộ câu chuyện, có thể nhận thấy xà nu là một hình ảnh mang tính biểu tượng. Xà nu có mặt trong đời sống hằng ngày, trong lịch sử, trong truyền thống của dân làng Xô Man. Xà nu cũng có mặt ở tất cả những sự kiện trọng đại của làng. Miêu tả xà nu trong sự ứng chiếu với con người và ngược lại, nhà văn đã cho cây một tâm hồn. Trong truyện, xà nu thực sự là một nhân vật có linh hồn, là biểu tượng cho nỗi đau, phẩm chất, sức mạnh của dân làng Xô Man, biểu tượng cho Tây Nguyên đau thương mà quật cường trong khói lửa chiến tranh giải phóng dân tộc + Xà nu sinh sôi nảy nở rất khoẻ. Nó là loài cây ham ánh sáng, cứng cáp và luôn vươn mình che chở cho làng Xô Man. Tất cả những phẩm chất ấy thể hiện rõ sức sống bất diệt của xà nu. “Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời. Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng […] Cứ thế hai ba năm nay rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng…”. + Cả rừng xà nu, hàng ngàn vạn cây, không cây nào không bị thương. Xà nu, vì thế cũng là biểu tượng cho sự mất mát, đau thương của cả dân tộc trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mĩ. + Xà nu còn là biểu tượng cho tư thế luôn sẵn sàng chiến đấu. Từ đầu đến cuối truyện, cây xà nu luôn được miêu tả song hành với con người. Xét cho cùng thì xà nu cũng chính là hình ảnh của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, tượng trưng cho phẩm chất và số phận của nhân dân Tây Nguyên trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. 1 – Hình tượng nhân vật Tnú: + Tnú là người gan góc, dũng cảm, mưu trí. Giặc giết bà Nhan, anh gút nhưng Tnú (lúc bấy giờ còn nhỏ) không sợ. Cái chết không làm Tnú run sợ. Thú vẫn cùng Mai xung phong vào rừng nuôi giấu cán bộ. Khi học chữ, không tiếp thu nhanh bằng Mai, Tnú đập vỡ bảng, lấy đá đập vào đầu đến chảy máu. Khi đi liên lạc, Tnú không đi đường mòn mà “xé rừng” đi, không lội chỗ nước êm mà “lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, vượt lên trên mặt nước, cỡi lên thác bằng băng như một con cá kình”. Bị giặc bắt và tra tấn dã man nhưng Tnú quyết không khai, trước sau anh luôn giữ một lòng trung với cách mạng, với nhân dân. + Tnú là người có tính kỉ luật cao, tuyệt đối trung thành với cách mạng: tham gia lực lượng vũ trang, cho dù rất nhớ nhà, nhớ quê hương nhưng chỉ khi được phép của cấp trên, anh mới về thăm. Khi bị giặc bắt, đốt mười đầu ngón tay, ngọn lửa như thiêu đốt gan ruột nhưng Tnú không kêu nửa lời, anh luôn tâm niệm lời dạy của anh Quyết: “Người cộng sản không thèm kêu van…”. – + Một trái tim yêu thương và sục sôi căm giận: Tnú là người sống rất nghĩa tình với buôn làng và là người chồng, người cha đầy trách nhiệm. Khi vợ con anh bị giặc bắt, Tnú đã tay không xông ra cứu. Động lực mãnh liệt ấy chỉ có thể được khởi nguồn từ trái tim cháy bỏng yêu thương vợ con và căm thù giặc sâu sắc. Tnú mang trong lòng ba mối thù: thù của bản thân, thù của gia đình và thù của buôn làng. + Ở Tnú, hình tượng đôi bàn tay mang đậm dấu ấn tính cách, số phận. Khi lành lặn – đó là đôi bàn tay trung thực, nghĩa tình (bàn tay cầm phấn viết chữ anh Quyết dạy cho, bàn tay cầm đá đập vào đầu mình để tự trừng phạt vì học hay quên chữ…). Khi bị thương – đó là chứng tích của một giai đoạn đau thương, của thời điểm lòng căm hận sôi trào: “Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng”. Đó cũng là bàn tay trừng phạt, | bàn tay căm thù. Chính đôi bàn tay tàn tật ấy đã giết chết tên chỉ huy đồn giặc trong một trận chiến đấu của quân giải phóng. + Hình tượng Tnú điển hình cho con đường đến với cách mạng của người dân Tây Nguyên và làm sáng tỏ chân lí của thời đại được phát biểu qua lời cụ Mết: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!…”. Bi kịch của Tnú khi chưa cầm vũ khí đứng lên là bi kịch của người dân Stra khi chưa giác ngộ chân lí ấy. Là người có thừa sức mạnh cá nhân nhưng anh vẫn thất bại đau đớn. Tnú chỉ được cứu khi dân làng Xô Man đã cầm vũ khí đứng lên. Cuộc đời bi tráng của Tnú là sự chứng minh cho chân lí: phải dùng bạo lực cách mạng để tiêu diệt bạo lực phản cách mạng. Con đường đấu tranh của Tnú từ tự phát đến tự giác cũng là con đường đến với cách mạng của làng Xô Man nói riêng và người dân Tây Nguyên nói chung. – Hình tượng rừng xà nu và Tnú có mối quan hệ khăng khít, bổ sung cho nhau. Rừng xà nu chỉ giữ được màu xanh bất diệt khi có những con người biết hi sinh như Tnú; sự hi sinh của những con người như Tnú góp phần làm cho những cánh rừng xà nu mãi bạt ngàn xanh. – Trong truyện, ngoài Tnú còn có cụ Mết, Mai, Dít và bé Heng. Các nhân vật được sắp xếp có chủ đích thành ba thế hệ. Dù không phải là những nhân vật trung tâm nhưng cụ Mết, Mai, Dít và bé Heng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của cốt truyện. Cụ Mết được hình dung như một cây xà nu lớn, vững chãi, hiện thân cho truyền thống thiêng liêng, là thủ lĩnh tinh thần của bao thế hệ người làng Xô Man. Mai và Dít là đại diện cho những người phụ nữ Tây Nguyên giác Ich mạng. Mai hi sinh, Dít ngày một trưởng thành, tiếp bước chị làm cách mạng. Tương lai của cách mạng chính là bé Heng. Tuy còn nhỏ nhưng Heng trông đã rất chững chạc: “súng đeo chéo ngang lưng ra vẻ một người lính thực sự”. Điều đó ngầm báo một sự tiếp nối lớn mạnh hơn: rồi đây, người dân Xô Man nói riêng và người dân Tây Nguyên nói chung sẽ đương đầu với kẻ thù hung bạo bằng một tư thế mới. – Giá trị nghệ thuật nổi bật của thiên truyện là nhà văn đã tạo dựng được không khí, màu sắc đậm chất Tây Nguyên. Điều đó thể hiện rõ ở bức tranh thiên nhiên, ngôn ngữ, tâm lí, hành động của các nhân vật. Hơn nữa, Nguyễn Trung Thành đã xây dựng thành công các nhân vật vừa có những nét cá tính sống động vừa mang những phẩm chất có tính khái quát, tiêu biểu như cụ Mết, Tnú, Dít,… – – Bằng ngôn ngữ giàu tính tạo hình, giàu nhạc điệu, khi thâm trầm, khi tha thiết, trang nghiêm, nhà văn đã khắc hoạ thành công hình tượng cây xà nu, tạo nên một không gian đậm màu sắc sử thi cho thiên truyện. * Qua câu chuyện về những con người ở một bản làng hẻo lánh bên những cánh rừng xà nu bạt ngàn, nhà văn không chỉ ngợi ca tinh thần bất khuất, sức mạnh quật khởi của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói riêng và đất nước, con người Việt Nam nói chung trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn khẳng định một chân lí của thời đại: để giữ gìn sự sống của đất nước và nhân dân, không Có cách nào khác là phải cùng nhau cầm vũ khí đứng lên chống lại kẻ thù xâm lược. I – C U HỎI ÔN TẬP 1. Giải thích ý nghĩa nhan đề tác phẩm Rừng xà nu. 2. Truyện ngắn Rừng xà nu đã khắc hoạ chân dung một tập thể anh hùng nhưng mỗi người có một vẻ đẹp riêng. Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên.