Phần một: Hướng dẫn nội dung ôn tập-Phần làm văn-Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Nguồn website dethi123.com

I- NỘI DUNG TRỌNG T M CẦN ÔN TẬP 1. Kiến thức … a) Mục đích, yêu cầu – Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống,.. của con người, nhằm giới thiệu, giải thích, phân tích, biểu dương những mặt đúng và bác bỏ những biểu hiện sai lệch xung quanh vấn đề được bàn luận; trên cơ sở đó, rút ra bài học nhận thức và hành động cần thiết cho mọi người. – Người viết cần thể hiện quan điểm đúng đắn, đồng thời bộc lộ rõ tình cảm, thái độ của bản thân. b) Cách thức triển khai – Để triển khai bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí cần xác định đúng nội dung tư tưởng, đạo lí đặt ra trong đề bài; căn cứ vào nội dung đó mà giải thích, phân tích, bình luận để làm sáng tỏ vấn đề và rút ra bài học. (Lưu ý: Khi nêu bài học cần chân thực, tránh hô hào chung chung, sáo rỗng,…) Có thể triển khai theo các bước cụ thể sau: – Giới thiệu, giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận. – Phân tích, biểu dương các mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề bàn luận. .. – Nêu ý nghĩa, rút ra bài học về tư tưởng, đạo lí và hành động. – Trong khi viết bài, cần phối hợp các thao tác lập luận: phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận,… Cần diễn đạt giản dị, ngắn gọn, sáng sủa, nhất là cần nêu bật suy nghĩ riêng của bản thân. 2. Kĩ năng ” – Xác định đúng nội dung tư tưởng, đạo lí đặt ra trong đề bài, hình thành cách thức nghị luận giải thích, phân tích, bình luận. Người viết cần nắm được bản chất nội dung tư tưởng, đạo lí đồng thời phải biết nhìn nhận, soi chiếu vấn đề từ nhiều phía để có cái nhìn toàn diện, biểu dương những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch, tránh cực đoan, phiến diện. (Lưu ý: Biểu dương hay bác bỏ đều phải có lí lẽ xác đáng, có cơ sở khoa học, tránh suy diễn, áp đặt.) – Huy động kiến thức và những trải nghiệm của bản thân để tạo lập văn bản nghị luận về một tư tưởng, đạo lí. Kiến thức được nêu ra cần có sự hài hoà giữa cái chung và cái riêng, giữa trị thức phổ quát và nhận thức chủ quan của bản thân, nhưng quan trọng nhất là cần chân thành, thiết thực, hợp lí, chặt chẽ và thuyết phục. I – C U HỎI ÔN TẬP 1. Đọc câu chuyện sau và thực hiện yêu cầu nêu ở dưới: Khung cửa lấp lánh Có một cậu bé nọ sống trong một nông trại xa xôi hẻo lánh. Mỗi sáng, cậu phải thức dậy trước lúc mặt trời mọc để phụ giúp việc lặt vặt. Đến chiều, cậu lại ra khỏi nhà để làm việc cho đến khi trời tối. . Ngày nào cũng vậy, lúc mặt trời đứng bóng, cậu dùng tay một lát và leo lên hàng rào nhìn ngắm ngôi nhà có những khung cửa sổ bằng vàng ở tít đằng xa. “Phải chi mình được sống trong ngôi nhà đó nhỉ. Chắc là tuyệt lắm!”. – Cậu thầm nghĩ. Rồi cậu thả hồn hình dung ra những đồ dùng trong ngôi nhà. Nếu có thể trang trí những cửa sổ bằng vàng như thế thì hẳn đồ đạc trong nhà cũng phải sang trọng lắm. Cậu tự hứa một ngày nào đó nhất định mình sẽ đến thăm ngôi nhà lộng lẫy ấy. . . Một buổi sáng, cha cậu bảo cậu hãy ra khỏi nhà để ông làm việc một mình. Hiếm khi có dịp rảnh việc thế này, cậu lập tức gói bánh mì đem theo và băng qua cánh đồng, hướng thẳng tới ngôi nhà có những chiếc cửa sổ bằng vàng. Đến quá trưa, cậu đã đứng ngay trước ngôi nhà. Cậu tần ngần tưởng mình đi nhầm. Ngôi nhà này chẳng có chiếc cửa sổ bằng vàng nào hết! Thay vào đó chỉ là một căn nhà tồi tàn, loang lổ màu sơn, được quây kín bằng hàng rào đổ nát. Cậu bé bước đến cánh cửa treo tấm màn rách tả tơi và đưa tay lên gõ. Một cậu bé trạc tuổi cậu ra mở cửa. Cậu bé mới đến hỏi: – Có phải ngôi nhà này có những khung cửa sổ bằng vàng không? – Tớ hiểu rồi. – Cậu bé kia đáp rồi mời cậu ngồi lên hiên nhà. Ở đó, cậu nhìn lại phía ngôi nhà của mình và trông thấy ánh nắng chiều rọi chiếu khiến những khung cửa sổ trở nên óng ánh như được làm bằng vàng. . . . (Theo Hạt giống tâm hồn, tập hai, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2013) Từ câu chuyện trên, anh (chị) hãy lập dàn ý cho đề bài yêu cầu bàn luận về câu nói của Douglas Jerrold: “Hoa hạnh phúc mọc ngay bên cạnh chúng ta chứ không phải hái ở trong vườn người khác”. 2. Cho đề bài sau: Anh (Chị) nghĩ gì về ý kiến của Tuân Tử: “Người chê ta mà chỉ phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn của ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy”. Một bạn học sinh lập dàn ý cho bài viết của mình như sau: a) Mở bài – Tuân Tử là một nhà tư tưởng lớn của nhân loại. – Trích dẫn câu nói thể hiện quan điểm của Tuân Tử về thầy, bạn, kẻ thù. b) Thân bài 1. *. – Chứng minh câu nói của Tuân Tử: . : : : : : + Người chê là người thấy được cái sai của ta, có thể sửa cho ta, giúp ta nhìn thấy cái đúng; người đó là thầy ta. – + Người khen là người không ghen tị với ta, có thể động viên, giúp đỡ ta; đó là bạn ta. + Người vuốt ve, nịnh bợ ta khiến ta tự cao tự đại, mờ mắt mà lầm đường lạc lối, dẫn đến những việc sai trái, có hại,…; người đó là kẻ thù của ta. – Giải thích khái niệm: + Thầy: người hiểu biết hơn ta, có thể dạy dỗ ta những điều ta chưa biết. + Bạn: người mà ta có thể tin tưởng; có thể sẻ chia, giúp đỡ ta lúc phú quý, vinh hoa cũng như khi bần hàn, gian khổ. + Kẻ thù: kẻ luôn muốn điều xấu đến với ta, muốn hại ta. + Chế phải, khen phải: chê, khen đúng việc, đúng thời điểm, đúng lúc. + Vuốt ve, nịnh bợc những lời khen chỉ cốt làm vừa ý, lấy lòng người khác. – Suy nghĩ của cá nhân về vấn đề Tuân Tử nêu lên: + Đó là bài học lớn về đạo lí làm người, thực hiện được những bài học đó là hết sức khó khăn. + Cần lưu ý chỉ “chê phải, khen phải” mới là thầy, là bạn; chế sai, khen sai thì không phải là thầy, là bạn; còn “vuốt ve, nịnh bợ” thì thế nào cũng là kẻ thù. + Ý kiến của Tuân Tử còn là một bài học về cách ứng xử, cách đánh giá con người trong cuộc sống: Con người phải sống chân thành, luôn khiêm nhường, biết tự nhìn lại mình, tự phê bình, biết “chê phải, khen phải”, tuyệt đối không “vuốt ve, nịnh bợ” người khác. c) Kết bài – Ý kiến của Tuân Tử có ý nghĩa sâu sắc, thâm thuý. -Là bài học làm người, chỉ ra cho mọi người hướng hoàn thiện bản thân. Anh (Chị) hãy chỉ ra sự không hợp lí của dàn ý trên và nêu cách sửa chữa.