Phần một: Hướng dẫn nội dung ôn tập-Phần làm văn-Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi

Nguồn website dethi123.com

I – NỘI DUNG TRỌNG T M C N ÔN TẬP 1. Kiến thức – Đối tượng của bài nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi là giá trị nội dung, nghệ thuật của một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi. – Cách thức triển khai bài nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi: + Giới thiệu khái quát về tác phẩm hoặc đoạn trích văn xuôi cần nghị luận; + Bàn về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, đoạn trích văn xuôi theo định hướng của đề bài; + Đánh giá chung về tác phẩm, đoạn trích văn xuôi đó. 2. Kĩ năng – Rèn luyện các kĩ năng tìm hiểu đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi qua các bài tập thực hành sau: – a) Tìm hiểu đề cho bài nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi (Đề 1, Đề 2, Ngữ văn 12, tập hai, trang 34). . – Vấn đề trung tâm: + Phân tích truyện ngắn Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan để thấy những phương diện đặc sắc, tiêu biểu về nội dung và nghệ thuật (Đề 1). + Sự khác nhau về từ ngữ, về giọng văn giữa hai văn bản Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) và Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ – Vũ Trọng Phụng); nguyên nhân của sự khác nhau đó (Đề 2). – Thao tác nghị luận chủ yếu: + Thao tác phân tích (Đề 1). + Thao tác phân tích, chứng minh, giải thích (Đề 2). . .. . 3 – Phạm vi, giới hạn: + Truyện ngắn Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan (Đề 1). + Văn bản Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân và Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đó) của Vũ Trọng Phụng (Đề 2). b) Lập dàn ý cho bài nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi (tham khảo phần lập dàn ý của Đề 1, Đề 2, Ngữ văn 12, tập hai, trang 34 – 35). c) Phân tích đề, lập dàn ý cho bài nghị luận về một tác phẩm văn xuôi (phần Luyện tập, Ngữ văn 12, tập hai, trang 36). – Phân tích đề: + Vấn đề trung tâm nghệ thuật châm biếm, đả kích trong truyện ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc. + Thao tác nghị luận chủ yếu: phân tích, chứng minh. + Phạm vi, giới hạn: truyện ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc. – Lập dàn ý: Mở bài: Giới thiệu về tác giả, tác phẩm: + Năm 1922, Khải Định sang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc địa ở Mác-xây. Nguyễn Ái Quốc viết truyện ngắn “Vi hành” nhằm lật tẩy chiêu bài tán dương chính phủ Pháp, ru ngủ quần chúng Pháp và châm biếm, đả kích Khải Định và bọn mật thám Pháp nhân chuyến công du của vị vua bù nhìn này. + Trong truyện, tác giả đã thể hiện nghệ thuật châm biếm sắc sảo qua việc tạo tình huống nhầm lẫn và giọng văn mỉa mai, hài hước. Thân bài: Phân tích và chứng minh nghệ thuật châm biếm, đả kích trong tác phẩm. + Tạo tình huống nhầm lẫn nhằm làm nổi bật chân dung và hành động của nhân vật Khải Định. • Tình huống nhầm lẫn thứ nhất: một đôi trai gái người Pháp nhầm lẫn tác giả với vị vua đi “vi hành” và thoải mái bàn tán, bình phẩm về vị vua ấy. Trên toa tàu điện ngầm, đôi thanh niên người Pháp nhìn thấy một người An Nam (“tôi” – người kể chuyện) và khẳng định đó là vị vua An Nam đang công du “mẫu quốc”. Vì thế họ thản nhiên bàn tán, nhìn ngắm mà không hề sợ lố vì nghĩ rằng vị vua kia không hề biết tiếng Pháp nên không thể hiểu họ nói gì với nhau. Từ sự nhầm lẫn này, người kể muốn gợi lên ở người đọc suy ngẫm: mọi người dân Pháp đều có thể “nhầm” như thế nên mới kể lại việc được đón tiếp, được thấy những lời bàn tán, chỉ trỏ “Hắn đấy!”, “Xem hắn kìa!”. Tất cả những người da vàng, mũi tẹt,… trên đất Pháp đều được coi như vua An Nam. Với một nước văn minh, vua đối với họ là thứ đồ cổ lạ mắt, một trò mua vui giải trí rẻ tiền. | Tình huống nhầm lẫn này làm cho nhân vật Khải Định tuy không trực tiếp xuất hiện trong tác phẩm nhưng chân dung của hắn hiện lên thật rõ nét, sinh động mà lại khách quan với hình dáng (mũi tẹt, mắt xếch, mặt bủng như vỏ chanh,…), trang phục (cái chụp đèn trên đầu quấn khăn, tay đeo đầy những nhẫn,…), cử chỉ, hành động (nhút nhát, lúng túng, lén lút,…). Qua việc tạo tình huống này, tác giả đã thể hiện tài năng trong nghệ thuật tự sự: nhân vật không trực tiếp xuất hiện nhưng mọi người đều thấy rất rõ chân tướng của vị vua An Nam này; tạo sự khách quan khi Khải Định được nhìn qua lăng kính của người dân “mẫu quốc”. • Tình huống nhầm lẫn thứ hai: chính phủ Pháp cũng nhầm lẫn – nhầm giữa vua An Nam với người dân An Nam trên đất Pháp! Để tránh thất thế, chính phủ Pháp đều đối đãi với mọi người An Nam trên đất Pháp như với Khải Định. Đi đâu, làm gì,… những người dân thuộc địa đều được “bảo vệ”, “hộ tống”, “theo dõi”,… cẩn thận, chu đáo. Tạo tình huống nhầm lẫn này, nhà văn đã bóc trần thủ đoạn của thực dân Pháp trong việc cử mật thám theo dõi những người yêu nước, mỉa mai sự “phục vụ tận tuy” của mật thám Pháp, chỉ ra những việc làm lén lút, đáng ngờ của Khải Định (“vi hành” vào hiệu cầm đồ, xóm ăn chơi,…). + Giọng văn hài hước, mỉa mai, châm biếm phù hợp với mục đích của tác phẩm. Kết bài: Nhận định về giá trị nghệ thuật và nội dung của “Vi hành”. d) Huy động kiến thức và những cảm xúc, trải nghiệm của bản thân để viết bài nghị luận về một tác phẩm hoặc một đoạn trích văn xuôi. II – C U HỎI ÔN TẬP | Xây dựng dàn ý chi tiết cho các đề bài sau: * 1. Phân tích nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao. 2. Giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân). 3. Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Mị (Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài) trong đêm tình mùa xuân và đêm cởi trói cho A Phủ. 4. Chứng minh rằng Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài là một bài ca về khát vọng sống và hạnh phúc của nhân dân vùng núi Tây Bắc.