Phần một: Hướng dẫn nội dung ôn tập-Phần làm văn-Diễn đạt trong văn nghị luận

Nguồn website dethi123.com

I. NỘI DUNG TRỌNG T M CẦN ÔN TẬP | 1. a) Về cách sử dụng từ ngữ – Lựa chọn từ ngữ chính xác, phù hợp với vấn đề cần nghị luận, tránh dùng những từ lạc phong cách hoặc những từ ngữ sáo rỗng, cầu kì. – Kết hợp sử dụng các phép tu từ từ vựng và một số từ ngữ mang tính biểu cảm, gợi hình tượng để bộc lộ cảm xúc phù hợp. b) Về cách sử dụng kết hợp các kiểu câu – Kết hợp một số kiểu câu trong đoạn / bài để tạo sự linh hoạt trong giọng điệu và thể hiện cảm xúc. – Sử dụng các phép tu từ cú pháp để tạo nhịp điệu, nhấn mạnh thái độ, cảm xúc. * Xác định giọng điệu cơ bản phù hợp với nội dung bài văn nghị luận. Về cơ bản, giọng điệu của bài văn nghị luận là trang trọng, nghiêm túc nhưng ở mỗi phần trong bài có thể thay đổi để phù hợp với nội dung cụ thể. . 2. a) So sánh, nhận diện các cách diễn đạt trong hai đoạn văn nghị luận, từ đó nắm được những yêu cầu của việc sử dụng từ ngữ, đánh giá hiệu quả của việc sử dụng từ ngữ (Bài tập 1, Ngữ văn 12, tập hai, trang 136 – 137). | – Đoạn văn (1): nhược điểm chủ yếu là cách dùng từ ngữ không phù hợp với đối tượng được nói tới như nhàn rỗi, bọn, vẻ đẹp lung linh,… – Đoạn văn (2): có cách diễn đạt chính xác và hợp lí hơn. – + Sử dụng phép thế: Bác – Người – Hồ Chí Minh. + Trích dẫn thơ minh hoạ hợp lí, nói được cái “thần” trong con người và thơ Hồ Chí Minh. + Ngôn ngữ trong sáng, văn có hình ảnh, giàu tính thuyết phục. b) Nhận xét, đánh giá cách dùng từ ngữ chính xác, giàu sắc thái biểu cảm (Bài tập 2, Ngữ văn 12, tập hai, trang 137). – Về tác dụng biểu cảm: những từ ngữ in đậm trong đoạn trích được Xuân Diệu sử dụng đều mang một nét nghĩa chung nói về sự u sầu, lặng lẽ rất phù hợp với nỗi buồn trong cõi vô biên của Huy Cận. – Về sắc thái biểu cảm: phù hợp với đối tượng nghị luận, thể hiện sự đồng điệu giữa người viết (Xuân Diệu) và người được nói tới (Huy Cận) khi nhà thơ sử dụng những từ ngữ giàu tính gợi cảm, cách xưng hô đặc biệt (chàng) và rất nhiều những thành phần cùng chức năng. c) Phát hiện lỗi và sửa chữa lỗi dùng từ (Bài tập 3, Ngữ văn 12, tập hai, trang 138). – Sử dụng một số từ ngữ sáo rỗng, không phù hợp với đối tượng: “kịch tác gia vĩ đại”, “kiệt tác”,… . – Sử dụng nhiều từ ngữ không phù hợp với phong cách ngôn ngữ chính luận: + Văn viết như văn nói. + Dùng nhiều từ ngữ thuộc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt như “người ta ai mà chẳng”, “chẳng là gì cả”, “mà lại làm anh ta phát bệnh”,… . d) So sánh, nhận diện cách sử dụng kiểu câu trong hai đoạn văn nghị luận, từ đó nắm được những yêu cầu của việc sử dụng kiểu câu, đánh giá hiệu quả của việc sử dụng câu văn (Bài tập 1, Ngữ văn 12, tập hai, trang 138 – 139). | Cả hai đoạn cùng bàn về nhân vật Trọng Thuỷ trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ. – Đoạn văn (1): sử dụng toàn kiểu câu kể, câu chủ động với chủ ngữ là Trọng Thuỷ. Cách diễn đạt này tuy không sai nhưng đơn điệu, thiếu sức gợi. – Đoạn văn (2): sử dụng kiểu câu uyển chuyển, linh hoạt hơn (câu tường thuật, câu hỏi tu từ, câu cảm thán; câu ngắn, câu dài) phù hợp với lập luận và cảm xúc của người viết. | e) Đánh giá hiệu quả của cách sử dụng các kiểu câu (Bài tập 2, Ngữ văn 12, tập hai, trang 139 – 140). – Kiểu cầu sử dụng: + Chủ yếu là câu miêu tả với những từ ngữ, hình ảnh giàu hình tượng. + Tác dụng: gợi lên ở người đọc những tưởng tượng cụ thể, sinh động về làng quê của nhà thơ Nguyễn Bính, giúp độc giả hiểu sâu sắc hơn thơ của ông. 4. – Về câu “Chỉ nghĩ lại cũng đã se lòng”. + Trong văn cảnh, đây là câu rất ngắn gọn, dồn chứa những thông tin như một sự khẳng định dứt khoát, chắc gọn. . ” + Là cậu không chủ ngữ nên có giá trị khái quát lớn. Tất cả mọi người khi đọc và nghĩ về cảnh làng quê trong thơ Nguyễn Bính đều có thể “chỉ nghĩ lại cũng đã se lòng”. g) Phát hiện và phân tích lỗi về câu trong đoạn văn (Bài tập 3, Ngữ văn 12, tập hai, trang 140 – 141). Cả hai đoạn văn đều mắc lỗi sử dụng một mô hình cấu tạo câu cho cả đoạn nên gây cảm giác đơn điệu, nhàm chán. | h) Nhận diện những đặc điểm trong cách sử dụng từ ngữ, sử dụng kết hợp các kiểu câu, biểu hiện giọng điệu của lời văn trong các đoạn trích (Bài tập 1, phần Luyện tập, Ngữ văn 12, tập hai, trang 157 – 158). – Việc sử dụng từ ngữ: + Đoạn 1: từ ngữ không văn hoa, kiểu cách mà rất cụ thể, giản dị. + Đoạn 2: từ ngữ trau chuốt, giàu hình ảnh. + Đoạn 3: từ ngữ phong phú, giàu hình ảnh, tinh tế. – Việc kết hợp các kiểu câu: + Đoạn 1: Nhiều câu khẳng định kết hợp với câu có mệnh đề mang tính đối lập, lặp cấu trúc. + Đoạn 2: Kết hợp hài hoà các câu nhiều mệnh đề, lặp cấu trúc câu. + Đoạn 3: Sử dụng hàng loạt câu hai mệnh đề có tính chất so sánh, câu nêu giả thiết, giả định (nếu… thì…). – Giọng điệu của đoạn văn: + Đoạn 1: giọng điệu tự hào, đanh thép, tự tin. + Đoạn 2: giọng điệu ngưỡng mộ, tâm tình. + Đoạn 3: giọng điệu ngợi ca, hào sảng. II – C U HỎI ÔN TẬP 1. Chọn ba đoạn văn của ba tác giả đã được học trong chương trình và phân tích: – Cách sử dụng từ ngữ. – Cách kết hợp các kiểu câu. – Giọng điệu. | 2. Đọc đoạn văn sau và cho biết đặc điểm trong cách sử dụng từ ngữ, sử dụng kết hợp các kiểu câu và giọng điệu của lời văn: | Văn Nguyên Hồng bao giờ cũng lấp lánh sự sống. Những dòng chữ đầy chi tiết cứ cựa quậy, phập phồng. Một thứ văn bám riết lấy cuộc đời, quấn quýt lấy con người. Người ta thường nói nhà văn, nhà thơ cần có ba yếu tố chủ quan: tài, trí và tâm. Có cây bút chỉ mạnh về tài, về trí. Đọc Nguyên Hồng, thấy tài và tâm, nhất là tâm, nổi lên hàng đầu. Mà “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, ở những nhà văn chân chính xưa nay, tâm bao giờ cũng là cái gốc. Tài và trí chỉ là cành, là ngọn. Nguyên Hồng viết văn như là đặt luôn cái “tâm” nóng hổi của mình trên trang sách. Nếu cần nói thật khái quát một cái gì chung nhất cho mọi chủ đề tác phẩm của Nguyên Hồng, thì đó là lòng nhân đạo, một chủ nghĩa nhân đạo baogiờ cũng thống thiết mãnh liệt. (Nguyễn Đăng Mạnh, Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng, Ngữ văn 12 Nâng cao, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, tr. 56)