Phần một: Hướng dẫn nội dung ôn tập-A – Phần văn học-1. Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945

Nguồn website dethi123.com

I – NỘI DUNG TRỌNG T M CẦN ÔN TẬP .. . . . . | 1. Quá trình hiện đại hoá nền văn học 7 Tỷ a) Từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một thời kì quan trọng trong lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử văn học nói riêng. Với khoảng thời gian chưa đầy nửa thế kỉ, xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc chưa từng thấy. Vượt lên trên sự kìm hãm của các thế lực thực dân phong kiến, hoà nhịp với sự lớn mạnh của dân tộc, nền văn học nước nhà đã phát triển theo hướng hiện đại hoá với một nhịp độ hết sức nhanh chóng. | Hiện đại hoá được hiểu là quá trình làm cho văn học thoát khỏi hệ thống thi pháp văn học trung đại và đổi mới theo hình thức của văn học phương Tây, có thể hội nhập với nền văn học hiện đại thế giới. Nội dung hiện đại hoá văn học diễn ra trên mọi mặt, ở nhiều phương diện: quan niệm về văn học, tư tưởng, tình cảm, cái nhìn,… của nhà văn trước hiện thực cuộc sống. Tuy nhiên hiện đại hoá dễ nhận thấy nhất ở hình thức của văn học. Trong sự thay đổi chung của xã hội, văn hoá Việt Nam thời kì này cũng có sự thay đổi. Từ đầu thế kỉ XX, văn hoá Việt Nam dần dần thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Hoa phong kiến, bắt đầu tiếp xúc với văn hoá phương Tây, mà chủ yếu là văn hoá Pháp. Đây là thời kì “Mưa u, gió Mĩ”, “Á – u xáo trộn”, cũ – mới giao tranh. Chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Tây ở cả hai chiều tiến bộ và lạc hậu, nền văn hoá Việt Nam thời kì này chuyển biến theo hướng hiện đại, từng bước vượt thoát khỏi ảnh hưởng của nền văn hoá cổ truyền phong kiến có bề dày hàng ngàn năm. Một cuộc vận động văn hoá đã được dấy lên từ đó nhằm chống lại lễ giáo phong kiến hủ lậu và giải phóng cá nhân. Trong giai đoạn này, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng góp phần quan trọng vào việc đưa nền văn hoá nước ta phát triển theo chiều hướng tiến bộ và cách mạng, bất chấp âm mưu của kẻ địch trong việc nuôi dưỡng một thứ văn hoá có tính chất cải lương và nô dịch. Cùng với các tác động mạnh mẽ nêu trên thì sự phát triển mạnh mẽ của báo chí và nghề xuất bản; rồi chữ quốc ngữ dần thay thế chữ Hán, chữ Nôm; phong trào dịch thuật phát triển; lớp trí thức Tây học thay thế lớp trí thức Nho học là những nguyên nhân quan trọng tạo nên những điều kiện hình thành nền văn học Việt Nam hiện đại và làm cho nền văn học phát triển mạnh theo hướng hiện đại hoá. b) Quá trình hiện đại hoá của văn học thời kì này diễn ra qua ba chặng đường: – Chặng thứ nhất (từ đầu thế kỉ XX đến khoảng năm 1920) – Chặng thứ hai (khoảng từ năm 1920 đến năm 1930) . ! ! – Chặng thứ ba (khoảng từ năm 1930 đến năm 1945). . . Hiện đại hoá văn học là một quá trình. Ở hai chặng đường đầu, đặc biệt ở chặng thứ nhất, văn học còn bị nhiều ràng buộc, níu kéo của cái cũ, tạo nên tính chất giao thời của văn học, Đến chàng thứ ba, công cuộc hiện đại hoá mới thực sự toàn diện và sâu sắc, hoàn tất quá trình hiện đại hoá văn học. 2. Các bộ phận của nền văn học a) Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 hình thành theo hai bộ phận và phân hoá thành nhiều khuynh hướng, vừa đấu tranh với nhau, vừa bổ sung cho nhau để cùng phát triển. Hình thành và phát triển trong hoàn cảnh của một nước thuộc địa, chịu sự chi phối mạnh mẽ và sâu sắc của quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, văn học từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 gồm có hai bộ phận: văn học công khai và văn học không công khai. i Văn học công khai là văn học hợp pháp, tồn tại trong vòng pháp luật của chính quyền thực dân phong kiến. Văn học không công khai bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, phải lưu hành bí mật. Do khác nhau về khuynh hướng tư tưởng và thẩm mĩ, nên văn học công khai lại phân hoá thành nhiều khuynh hướng, trong đó nổi lên hai khuynh hướng chính: văn học lãng mạn và văn học hiện thực. . Bộ phận văn học không công khai chủ yếu là thơ văn cách mạng, đặc biệt là thơ của các chí sĩ và các chiến sĩ cách mạng sáng tác trong tù. b) Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 phát triển với nhịp độ hết sức nhanh chóng: tăng mạnh về số lượng; chú trọng đổi mới, cách tân các thể loại; nở rộ những tác phẩm xuất sắc; sự thăng hoa sáng tạo đã kết tụ và hình thành nên nhiều nhà văn, nhà thơ lớn. . . Sở dĩ văn học thời kì này phát triển một cách nhanh chóng là bởi: sự thúc bách của yêu cầu thời đại; sự chủ quan của nền văn học (đây là nguyên nhân chính); sự thức tỉnh, trỗi dậy mạnh mẽ của cái tôi cá nhân. Ngoài ra, cũng cần phải nhận thấy rằng thời kì này, văn chương đã trở thành một thứ hàng hoá, viết văn trở thành một nghề để kiếm sống. 3. Khái quát về thành tựu và sự cách tân văn học a) Thành tựu chủ yếu của văn học thời kì này là đã kế thừa và phát huy những truyền thống lớn nhất, sâu sắc nhất của văn học Việt Nam, đó là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo. Đồng thời văn học thời kì này cũng đem đến cho truyền thống ấy một đóng góp mới của thời đại, đó là tinh thần dân chủ. Về nghệ thuật, văn học thời kì này đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, gắn liền với kết quả canh tân về thể loại và ngôn ngữ. Có được những thành tựu nói trên chủ yếu là do sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của dân tộc được nuôi dưỡng và phát triển trong các phong trào yêu nước cách mạng và do sự thức tỉnh, trỗi dậy mạnh mẽ của cái tôi cá nhân. b) Trong thời kì văn học này, xuất hiện nhiều những thể loại mới như phóng sự, lí luận phê bình văn học và những thể loại cũ có sự biến chuyển về chất như tiểu thuyết, thơ. Có thể nói, sự cách tân hiện đại hoá về thể loại thể hiện rõ nhất ở tiểu thuyết và thơ. tho. . . – Tiểu thuyết trung đại Việt Nam thường vay mượn đề tài, cốt truyện của văn học Trung Quốc; tập trung vào việc xây dựng cốt truyện li kì, hấp dẫn, kết cấu theo kiểu chương hồi và theo công thức; kết thúc có hậu; truyện được thuật theo trình tự thời gian; nhân vật thường phân tuyến rạch ròi; câu văn theo lối biền ngẫu,… Tiểu thuyết hiện đại lấy tính cách nhân vật làm trung tâm, chú trọng tính cách hơn cốt truyện, đi sâu vào thế giới nội tâm nhân vật. Tiểu thuyết không chỉ trần thuật theo thời gian tự nhiên mà còn rất linh hoạt; kết thúc thường không có hậu; bỏ những ước lệ, dùng bút pháp tả thực; lời văn tự nhiên gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày,… – Thơ mới khác thơ trung đại ở chỗ nó phá bỏ các quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ của thơ trung đại (về niêm, luật, điển cố, hình ảnh ước lệ,…). Thơ mới là tiếng nói của cái tôi cá nhân trước tạo vật, trước cuộc đời. Thoát ra khỏi những quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ dày đặc của thơ trung đại, cái tôi thơ mới được giải phóng về tình cảm, cảm xúc, đồng thời trực tiếp nhìn thế giới bằng cặp mắt “xanh non” khiến nó phát hiện ra nhiều điều mới lạ về thiên nhiên và lòng người. II – C U HỎI ÔN TẬP | 1. Thế nào là hiện đại hóa văn học? Phân tích các nguyên nhân làm cho văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX bước vào thời kì hiện đại. 2. a) Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 có sự phân hoá phức tạp như thế nào? Những điểm khác nhau giữa hai bộ phận văn học công khai và không công khai. b) Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 phát triển với một nhịp độ hết sức nhanh chóng. Hãy giải thích nguyên nhân của nhịp độ phát triển ấy. | 3. Sự cách tân hiện đại hoá thể hiện như thế nào ở hai thể loại thơ và tiểu thuyết?