Phần hai: Giới thiệu một số đề ôn tập-Đề 7

Gợi ý, đáp án

Nguồn website dethi123.com

I- ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) | Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: Tuổi thơ chở đầy cổ tích Dòng sông lời mẹ ngọt ngào Đưa con đi cùng đất nước Chòng chành nhịp võng ca dao. Con gặp trong lời mẹ hát Cánh cò trắng, dải đồng xanh Con yêu màu vàng hoa mướp “Con gà cục tác lá chanh”. […] Thời gian chạy qua tóc mẹ Một màu trắng đến nôn nao Lưng mẹ cứ còng dần xuống Cho con ngày một thêm cao. Mẹ ơi, trong lời mẹ hát . . ; Có cả cuộc đời hiện ra Lời ru chắp con đôi cánh Lớn rồi con sẽ bay xa. (Trong lời mẹ hát, Trương Nam Hương, Tiếng Việt 5, tập hai, NXB Giáo dục, 2008) Câu 1. Xác định thể thơ và phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. Câu 2. Những câu thơ ở khổ thơ thứ nhất gợi nhớ điều gì về tuổi thơ? Câu 3. Tìm và phân tích hiệu quả của các biện pháp nghệ thuật tu từ trong các câu thơ: Thời gian chạy qua tóc mẹ Một màu trang đến nôn nao .. . Lưng mẹ cứ còng dần xuống Cho con ngày một thêm cao. | Câu 4. Khái quát nội dung ý nghĩa của đoạn trích. II- LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Dựa vào văn bản được dẫn ở phần Đọc hiểu trên đây, anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày những suy nghĩ của mình về vấn đề: đức hi sinh của cha mẹ. Câu 2 (5,0 điểm) I. Cho hai đoạn thơ sau: 11. Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già, . Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất. Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại! Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời; Mùi tháng năm đều rớm vị chia phối, Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt… Con gió xinh thì thào trong lá biếc, | Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi? Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi, Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa? (Trích Vội vàng, Xuân Diệu, Ngữ văn 11, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016, tr. 22) 2. Cuộc đời tuy dài thế , . Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng , , Mây vẫn bay về xa (Trích Sóng, Xuân Quỳnh, Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016, tr. 156) Anh/chị hãy phân tích hai đoạn thơ trên để thấy được cảm nhận về những giới hạn của đời người và tuổi trẻ trong mỗi bài thơ. Gợi ý, đáp án I- ĐỌC HIỂU Câu 1. Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do (6 chữ). Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm. Câu 2. Các câu thơ trong khổ thơ thứ nhất gợi nhớ về những kỉ niệm tươi đẹp, ngọt ngào của tuổi thơ khi chúng ta được chăm sóc, yêu thương trong vòng tay của mẹ, được nghe mẹ kể chuyện cổ tích, nghe mẹ hát ru à ơi bên cánh võng. Câu 3. Đoạn thơ có hai biện pháp tu từ: – – Nhân hoá: Thời gian chạy qua tóc mẹ – Phép đối: Lưng mẹ/cùng xuống – Cho con/thêm cao. Hiệu quả nghệ thuật: Nhấn mạnh ý nghĩa thời gian trôi nhanh kéo theo sự già nua của mẹ. Mái tóc mẹ bạc trắng gợi nỗi buồn man mác đến nao lòng. Mái tóc bạc, tấm lưng còng bởi thời gian trôi nhưng cũng là bởi mẹ đã phải chịu bao vất vả, hi sinh để nuôi các con khôn lớn. Đoạn thơ gợi tình yêu thương và lòng biết ơn của người con đối với mẹ. Câu 4. Đoạn thơ trích bộc lộ niềm xót xa, đồng thời cũng thể hiện tình yêu và lòng biết ơn của người con trước những hi sinh thầm lặng của mẹ. II- LÀM VĂN Câu 1. a) Về hình thức, yêu cầu: – Viết đúng một đoạn văn, khoảng 200 chữ. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu,… + – b) Về nội dung, có thể chấp nhận các cách trình bày khác nhau cũng như những suy nghĩ riêng, miễn sao đoạn văn được triển khai một cách tự nhiên, hợp lí và thuyết phục. Có thể tham khảo cách triển khai ý sau: – Đức hi sinh là một trong những phẩm chất cao quý của con người. Đó là sự quên mình để lo cho người khác. Sự hi sinh thiêng liêng và gần gũi nhất là của cha mẹ dành cho con cái. Cha mẹ chăm chút cho con từ cái ăn, cái mặc, từ chuyện học hành; lo lắng, sợ hãi, đau khổ những lúc con bệnh tật, ốm đau; sẵn sàng bươn trải, lao động vất vả cả đời để dành dụm, nuôi nấng các con khôn lớn,… Trong mọi việc, cha mẹ luôn nghĩ đến các con trước khi nghĩ đến bản thân mình. – Đức hi sinh có giá trị rất to lớn. Nó không chỉ nói lên giá trị của con người mà còn góp phần làm thăng hoa giá trị ấy. Hi sinh là một nguồn sức mạnh tinh thần rất to lớn giúp người ta sống và hành động. Nó khiến cha mẹ và con cái mà họ sinh niềm vui, sự sung sướng của riêng mình, chịu vất vả lam lũ để con cái được khoẻ mạnh, vui sướng, trưởng thành. – Cái gốc, động cơ của đức tính hi sinh chính là tình yêu thương chân thật, vô | bờ của cha mẹ dành cho con cái. Chính tình yêu thương và sự hi sinh của cha mẹ là nền tảng tạo nên tình cảm, phẩm chất tốt đẹp cũng như nuôi dưỡng sự trưởng thành và tương lai của mỗi chúng ta. – Đức hi sinh của cha mẹ đã trở thành những biểu tượng nghệ thuật đầy xúc động. Hình ảnh những nếp nhăn trên gương mặt cha, những giọt mồ hôi thấm trên vai mẹ vì lo toan cho con cái chính là những biểu hiện sống động và đầy cảm xúc của tình phụ tử và mẫu tử, có sức gợi cảm lay động lòng người. – Mỗi chúng ta cần thấu hiểu sự hi sinh, vất vả, gian lao của cha mẹ trên bước đường nuôi chúng ta khôn lớn và hãy đền đáp bằng lòng hiếu thảo, bằng việc trở thành những con người tốt, sống có ích, có giá trị như mong muốn của mẹ cha. Câu 2. Bài viết cần tập trung làm rõ những ý chính sau: Hi a) Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm và đoạn trích. – Xuân Diệu là một nhà thơ tiêu biểu, có vị trí quan trọng trong phong trào Thơ mới (1932-1945). Ở Xuân Diệu, có sự kết hợp giữa cổ điển và hiện đại, Đông và Tây trong tư tưởng và tình cảm thẩm mĩ. Song, văn hoá, văn học phương Tây in dấu ấn sâu đậm hơn trong thơ ca của tác giả. Xuân Diệu luôn nhìn cuộc đời với cặp mắt “xanh non”, “biếc rờng ngơ ngác và đầy vui sướng, phát hiện ra biết bao nhiêu vẻ dáng say đắm của thiên nhiên và con người trần thế. Bài thơ Vội vàng là một trong những bài đặc sắc nhất của tập Thơ thơ (1938), tập thơ đầu tay của Xuân Diệu, thể hiện niềm khát yêu, khát sống, say đắm cuộc đời và đặc biệt là những quan niệm sống mới mẻ, tích cực. Đoạn thơ trích vừa thể hiện quan niệm sống vừa là những cảm nhận của tác giả về giới hạn của đời người và tuổi trẻ trước bước đi của thời gian. – Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ nữ tiêu biểu của văn học thời kháng chiến chống Mĩ. Thơ bà in đậm vẻ đẹp nữ tính, là tiếng nói của một tâm hồn trắc ẩn, hồn hậu, luôn da diết khát vọng về hạnh phúc đời thường. Sóng là bài thơ hay trong tập Hoa dọc chiến hào (1968), một trong những bài thơ bộc lộ tâm hồn tươi trẻ, nồng nhiệt, phong phú và giàu khát vọng. Đoạn trích thơ đề cập tới một quy luật rất thường của đời sống, qua đó bộc lộ một thoáng lo âu của nhà thơ trước những giới hạn trong cuộc đời. | b) Cảm nhận về những giới hạn của nhân vật trữ tình trong hai đoạn thơ. * Cảm nhận về những giới hạn trong đoạn trích bài thơ Vội vàng. – Ý nghĩa nội dung: + “Xuân tới” là “xuân qua”, “xuân còn non” nghĩa là “xuân đã già” là những quan niệm mới mẻ của các nhà thơ mới: thời gian là tuyến tính, một chiều. Đây là quan niệm có sự ảnh hưởng của văn hoá và tư duy phương Tây. | + Xuân Diệu nhìn đời qua con mắt thời gian, đã lấy tuổi trẻ, cái ngắn ngủi của cuộc đời để đo thời gian và ngược lại. Mùa xuân qua là tuổi trẻ cũng mất. Trong con mắt cảm nhận của tác giả, những hạn hữu, giới hạn của cuộc đời này được thể hiện qua những hình tượng: mùa xuân – tuổi trẻ – cuộc đời – tôi. + Từ đó, cảm nhận chung về sự ít ỏi, vơi cạn lan toả ra cả không gian: “sông núi”, “đất trời” đều nhuốm màu phôi phai; tất thảy “gió”, “chim” đều e sợ, buồn bã vì sự phai tàn. | + Sự tồn tại của cá nhân con người cũng vơi dần, cạn dần khi thời gian qua, tuổi trẻ trôi đi. Lo sợ trước sự giới hạn đó, nhà thơ có tâm thế nôn nao, cử chỉ vội vàng, hối hả. Vì những giới hạn, Xuân Diệu càng muốn tuyên ngôn cho việc sống với từng thời khắc, trân trọng hiện tại để tận hưởng cái đẹp của cuộc đời. – Ý nghĩa nghệ thuật: V sų pral tan. + Sự giới hạn, phôi phai của thời gian, không gian được thể hiện thông qua một loạt hình ảnh và trường từ vựng: “chia phôi”, “tiễn biệt”, “bay đi”, “đứt”,… | diễn tả sự chia cắt, không trọn vẹn. – + Thời gian có thể coi là một yếu tố nghệ thuật: sự cảm nhận về thời gian hữu hạn khiến không gian cũng nhuốm màu chia biệt, phôi pha. * Cảm nhận về những giới hạn trong đoạn trích bài thơ Sóng. – Ý nghĩa nội dung: + Nhân vật trữ tình thể hiện niềm âu lo về sự giới hạn, hữu hạn nhưng không chỉ của tình yêu, mà là ngần ngại về cái mong manh, ngắn ngủi của đời người. + Xuân Quỳnh thể hiện cảm nhận về sự giới hạn thông qua hai cặp hình ảnh: cuộc đời – năm tháng và biến rộng – mây bay xa, từ đó khắc hoạ sự giới hạn của thời gian – không gian. Cuộc đời tưởng dài, nhưng trước quy luật chảy trôi của thời gian, nó chỉ là thoáng chốc; biển tưởng lớn nhưng còn những không gian muôn trùng bao la hơn biển. Cả thời gian – không gian vẫn cứ là hữu hạn so với khát vọng sống, khát vọng yêu của con người. + Sự ám ảnh về thời gian, về mất mát của tuổi trẻ, sự phôi pha của tình yêu: đó là những hạn hữu mà Xuân Quỳnh nhật – rõ và còn cảm nhận trong sự lo âu, ám ảnh. Nhưng với Xuân Quỳnh, càng âu lo, niềm tin vào tình yêu càng cháy bỏng. I – Ý nghĩa nghệ thuật: + Hình ảnh “mây bay”, “biển rộng là những hình ảnh rất đời thường, bình dị, mộc mạc nhưng chính vì thế, nó diễn tả đơn giản và thấm thía nhất quy luật chảy trôi của cuộc đời. | + Điệp từ “vẫn” được nhắc lại trong khổ thơ cũng cho thấy cảm nhận của nhà thơ về sự giới hạn ở cả chiều kích không gian – thời gian, cũng như nhấn mạnh tính bất biến của quy luật đời người. . c) Sự tương đồng và khác biệt của hai đoạn thơ. ” – Tương đồng: cùng phản ánh những cảm nhận về sự giới hạn và chấp nhận nó như một quy luật không thể khác; cùng là những cảm nhận xuất phát từ cảm thức thời gian, từ đó cho thấy quan niệm của hai nhà thơ về những giới hạn của tuổi trẻ, tình yêu, cuộc đời con người; cùng cho thấy những khát vọng tình yêu, khát vọng sống của nhân vật trữ tình, mặc cho những hữu hạn. Qua đó, cùng cho thấy Xuân Diệu và Xuân Quỳnh, dẫu không phải là những nhà thơ cùng thời, nhưng đều là những hồn thơ ấp ôm niềm khát khao mãnh liệt với tình yêu, với hạnh phúc, với cuộc đời. L – Khác biệt: Ở Vội vàng, trong cảm nhận của Xuân Diệu có tâm thế thúc giục, vội vã, nôn nao để bắt kịp thời gian trôi, để cưỡng lại những hữu hạn. Trong khi đó, Xuân Quỳnh nói đến điều đó một cách giản dị, nữ tính, có sự điềm tĩnh, như thể chấp nhận nó là một lẽ tất nhiên của cuộc đời.