Phần hai: Giới thiệu một số đề ôn tập-Đề 13

Gợi ý, đáp án

Nguồn website dethi123.com

I- ĐỌC HIỂU Câu 1.Nhiều người vẫn thường hỏi tại sao họ bị ám ảnh trước tiền tài, địa vị, danh vọng và nhiều ham muốn khác đến vậy? Câu trả lời là do họ không biết trân quý những gì họ đang có. Khi những gì ta có xuất phát từ niềm khát khao mong mỏi thực sự, tâm trí ta sẽ không vướng bận vào những suy nghĩ quấn quanh, ta sẽ sống thực với cảm xúc của mình hơn. Đó cũng là khi ta không phải đương đầu với cảm giác hoang mang lo lắng, không cảm thấy khiên cưỡng như khi buộc bản thân làm những điều đáng chán. Tiền tài và địa vị không thể khỏa lấp sự trống rỗng trong tâm hồn. Vì thế, trước khi làm một việc gì, hãy tự hỏi: “Ta đang muốn làm gì?”. Hãy sống thật với chính mình và tự tin vào những mặt mạnh của bản thân, nếu không bạn sẽ lãng phí cuộc đời mình một cách vô nghĩa. Khi khoác lên mình chiếc mặt nạ hàng thu hút tình cảm và sự quan tâm của người khác, bạn sẽ đánh mất điều quan trọng nhất – đó là con người thật của mình. Tiền tài, địa vị tựa như một thứ chất kích thích. Nó làm nảy sinh trong mỗi người ham muốn sở hữu để xoa dịu những khát vọng mà họ chưa giành được hoặc để thỏa mãn sự tò mò trong họ. Không nên để bản thân rơi vào cạm bẫy đó. Sống thực với chính mình tựa như tấm khiên vững chắc giúp bạn không bị biến thành nạn nhân của sự ảo tưởng. Trước đây, tôi từng sai lầm khi mải mê tìm kiếm mình trong cái nhìn của người khác để rồi lạc lối trong mê cung của họ. Nhưng giờ đây, tôi hiểu rằng người ta chỉ có thể tìm thấy mình trong chính những suy nghĩ và hành xử của bản thân. Con đường ấy, không ai khác mà chính ta phải làm chủ lấy nó. (Trích Quên hôm qua sống cho ngày mai, Tian Dayton, Ph.D, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2010, tr. 26-27) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Theo tác giả, tại sao người ta “lại bị ám ảnh trước tiền tài, địa vị, danh vọng và nhiều ham muốn khác”? Câu 2. Tại sao tác giả cho rằng: “Hãy sống thật với chính mình và tự tin vào những mặt mạnh của bản thân”? Câu 3. Anh/Chị hiểu như thế nào về câu nói “Trước đây, tôi từng sai lầm khi mải mê tìm kiếm mình trong cái nhìn của người khác để rồi lạc lối trong mê cung của họ”? Câu 4. Thông điệp nào trong đoạn trích trên có ý nghĩa nhất đối với anh/chị? Vì sao? II – LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về nhận định: Hãy sống là chính mình thay vì ép bản thân theo mong đợi của người khác. Câu 2 (5,0 điểm) Nói về ý đồ nghệ thuật khi sáng tác truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân viết: “Khi viết về cái đói thường mọi người nghĩ khi đói người ta khổ cực và chỉ muốn chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn nhưng với ý khác là khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống. Dù ở trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng và vẫn hi vọng ở tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người” (Hà Minh Đức (Chủ biên), Nhà văn nói về tác phẩm, NXB Văn học, 1994, tr. 33). Qua việc phân tích truyện ngắn Vợ nhặt, hãy bình luận ý kiến trên. Gợi ý, đáp án . I- ĐỌC HIỂU Câu 1. Theo tác giả, sở dĩ nhiều người vẫn bị ám ảnh trước tiền tài, địa vị, danh vọng và nhiều ham muốn khác là do họ không biết trân quý những gì họ đang có. Câu 2. Tác giả cho rằng: “Hãy sống thật với chính mình và tự tin vào những mặt mạnh của bản thân”, vì: – Nếu không bạn sẽ lãng phí cuộc đời mình một cách vô nghĩa. Khi khoác lên mình chiếc mặt nạ hòng thu hút tình cảm và sự quan tâm của người khác, bạn sẽ đánh mất điều quan trọng nhất – đó là con người thật của mình. – Sống thực với chính mình giống như tấm khiên vững chắc giúp bạn không bị biến thành nạn nhân của sự ảo tưởng. | Câu 3. Câu nói của tác giả phản ánh kiểu sống của những người luôn bị ám ảnh bởi suy nghĩ “Người khác nghĩ thế nào về mình?”. Từ đó, cứ phải uốn mình theo “cái nhìn của người khác”. Mỗi người có một cuộc đời, một cách sống riêng. Trong cuộc sống, ta không thể làm hài lòng tất cả mọi người. Bởi thế, sẽ là sai lầm khi đi tìm hình ảnh của mình trong cái nhìn của người khác. Câu 4. Học sinh có thể đưa ra những thông điệp khác nhau tùy theo cách suy nghĩ, nhìn nhận riêng, miễn sao những thông điệp đó đảm bảo tính tư tưởng (tích cực và hợp lí) và lí giải được vì sao thông điệp đó lại có ý nghĩa. Có thể tham khảo gợi ý: – Hãy sống là chính mình thay vì ép bản thân sống theo ý muốn của người khác. – Cần nhận thức đúng ý nghĩa của khát vọng, danh vọng và giá trị của đời sống vật chất, tránh bị cuốn vào cạm bẫy của tiền tài, danh vọng. II- LÀM VĂN Câu 1. a) Về hình thức, yêu cầu: – Viết đúng một đoạn văn, khoảng 200 chữ. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu,… b) Về nội dung, học sinh có thể tự do trình bày quan điểm riêng của mình miễn sao đoạn văn được triển khai một cách tự nhiên, hợp lí và thuyết phục. Có thể tham khảo những gợi ý sau đây để viết đoạn văn: | – Mỗi người chúng ta sinh ra là một cá thể riêng biệt, mang một cá tính riêng, một màu sắc riêng, không ai giống ai và cũng không có ai sống để làm bản sao của người khác. Bởi vậy “sống là chính mình” là một quan niệm sống rất đúng đắn và tích cực. Sống là chính mình xuất phát từ nhận thức bạn biết mình thực sự là ai, có năng lực, sở trường hay sở đoản gì. Khi bạn sống được là chính mình tức là bạn đang sống với những gì tự nhiên vốn có trong con người bạn, không cần phải gò bó hay ép buộc mình phải sống giống bất kì ai. – Vậy tại sao chúng ta phải sống thật với chính mình? Xin hỏi liệu bạn có muốn trở thành bản sao của người khác hay không? Và hãy thử nghĩ xem, nếu không được sống là chính mình bạn sẽ phải mang một chiếc mặt nạ đối diện với rất nhiều người, liệu bạn có đủ sức để có thể đóng nhiều vai và làm hài lòng tất cả mọi người trong cuộc sống hay không? – Dù vậy, trong cuộc sống, cũng không dễ dàng để có thể sống thật với chính bản thân mình. Những vướng bận, toan tính đời thường có thể khiến cấp dưới không dám nói ra cái sai trái của cấp trên, bạn bè vì nể nang mà không dám góp ý cho nhau những điểm còn thiếu sót,… Bởi vậy, trong cuộc sống, cần khuyến khích, động viên nhau cùng xây dựng cách sống thật với bản thân cho tất cả mọi người, cho xã hội, để xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Để không còn những lúc dối người, dối mình, để mỗi cá nhân trong một tập thể có thể phát huy được toàn vẹn năng lực của mình. Khi biết sống thật với chính mình, người ta sẽ biết cách trân trọng chính mình và trân trọng những người xung quanh, sẽ không còn ai làm hại ai, cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp hơn nhiều. – Sống là chính mình còn là cơ hội để bạn hoàn thiện bản thân. Bạn có thể không học giỏi nhưng bạn lại có tài vẽ đẹp, hát hay. Bạn có thể không xinh nhưng bạn lại có giọng nói ấm áp. Bạn có thể không giỏi cầm, kì, thi, họa nhưng bạn lại biết nấu ăn ngon,… Bất kì ai sinh ra cũng có những điểm mạnh nhất định của mình mà chính bản thân ta phải tự mình tìm thấy và phát triển nó lên. – Sống là chính mình không có nghĩa là bảo thủ và đề cao cái tôi cá nhân. Trái lại cần biết phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, khắc phục sự tự ti để trở thành một cá tính độc đáo có dấu ấn riêng trong xã hội. | Câu 2. Bài viết cần làm rõ được những nội dung chính sau: a) Giới thiệu chung: – Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân viết về tình cảnh người nông dân trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Truyện thể hiện sâu sắc ý đồ nghệ thuật của tác giả với một hướng đi mới, có những nét khác biệt cơ bản so với những tác phẩm cùng đề tài đã có trước đây. – Truyện được Kim Lân viết sau năm 1945 (lần đầu công bố trong tập truyện ngắn Con chó xấu xí, 1962). b) Phân tích Vợ nhặt để làm rõ nhận định, đánh giá, nhận xét: ” * Truyện ngắn Vợ nhặt thể hiện rất rõ ý đồ nghệ thuật của Kim Lân. | – “Khi viết về cái đói thường mọi người có ý nghĩ là khi đói người ta khổ cực và chỉ muốn chết”. Đó có thể xem là khuynh hướng tư tưởng của nhiều cây bút của trào lưu văn học hiện thực (1930 – 1945). Truyện ngắn Vợ nhặt viết về tình cảnh người nông dân trong nạn đói năm 1945, lấy bối cảnh là nạn đói khủng khiếp đó, nhưng Kim Lân có định hướng khác, thể hiện tư tưởng khác. – “Tôi muốn viết một truyện ngắn nhưng với ý khác là khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống. Dù ở trong tình huống bị thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng và vẫn hi vọng ở tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người”. Đó là ý đồ tư tưởng nghệ thuật của Kim Lân khi viết truyện ngắn Vợ nhặt. Ông đã tạo nên một thế giới nghệ thuật riêng. Những phương diện nghệ thuật của tác phẩm đều hướng tới việc thể hiện tư tưởng nghệ thuật này. | + Dù ở trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc. Kim Lân đã sáng tạo ra một tình huống độc đáo: Anh cu Tràng nhặt được vợ giữa nạn đói, con người đang đứng giữa ranh giới cái sống và cái chết. Tình huống thật là bi thảm. Nhưng nhà văn không dìm người đọc vào cái buồn, cái khổ, cái đói đầy tủi nhục. Những trang miêu tả cái đói bao trùm xã hội, cái đói phủ bóng đen lên nhiều vùng quê, những chi tiết giàu tính nghệ thuật về cái đói không chỉ làm sâu sắc tình cảnh khốn khổ, tủi nhục của con người mà quan trọng hơn là nổi bật niềm khao khát hạnh phúc của con người. Trong cảnh ngộ ấy, người nông dân vẫn cưu mang, đùm bọc lẫn nhau, vẫn khao khát có một mái ấm gia đình, hạnh phúc lứa đôi. Đó là ý nghĩa nhân bản sâu sắc, đầy cảm động của thiên truyện ngắn xuất sắc này. + Vẫn hướng về ánh sáng và vẫn hi vọng ở tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người. Chính ý đồ này đã khiến nhà văn Kim Lân miêu tả diễn biến tâm lí của các nhân vật: anh cu Tràng, người đàn bà là vợ nhặt, bà cụ Tứ theo chiều hướng tích cực. Sự xuất hiện của nàng dâu mới đã đem đến cho gia đình nghèo khổ này một không khí “đầm ấm, hòa hợp” chưa bao giờ có. Sáng hôm sau, Tràng cảm thấy trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. “Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này. Người đàn bà là vợ nhặt dù không tìm được sự no ấm nhưng đã tìm thấy sự đầm ấm của một gia đình, chính điều đó đã đem đến một sự thay đổi thật sự trong tính cách của thị, đến mức làm cho Tràng phải ngạc nhiên: “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh”. Trong bầu không khí đầm ấm, bà cụ Tứ thấy “nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bảng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên”. Cùng với nàng dâu, bà cụ xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa. Một ý thức bổn phận và trách nhiệm sâu sắc hơn nảy sinh ở tất cả các thành viên của gia đình: “Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nề nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn”. Người mẹ từng trải và nhân hậu ấy đã bằng mọi cách nhen nhóm một niềm vui, niềm hi vọng cho dâu con của mình. “Bà cụ nói chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau”. Chính niềm vui, niềm tin vào cuộc sống ngày mai ấy đã hướng con người vào những hành động thiết thực để tạo dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn. | Ý đồ nói trên còn được thể hiện sâu sắc qua kết thúc của truyện. Đó là hình ảnh hiện lên qua đầu óc của Tràng: đoàn người đi phá kho thóc của Nhật cùng với lá cờ đỏ của Việt Minh bay phấp phới. Hình ảnh này đối lập với những hình ảnh về cuộc sống thê thảm của người nông dân được miêu tả ở những phần trước của thiên truyện. Kết thúc của truyện đã mở ra con đường sống của người nông dân và cho thấy khi bị đẩy vào tình trạng đói khát cùng đường thì những người nông dân nghèo khổ sẽ hướng tới Cách mạng. | * Như vậy, có thể thấy, ý đồ nghệ thuật của Kim Lân đã được thể hiện sâu sắc qua nhiều phương diện của hình thức nghệ thuật tác phẩm. Tư tưởng của tác phẩm thấm đượm vào từng phương thức, phương tiện nghệ thuật. Có được sự thành công đó, ngoài tài năng của Kim Lân, còn là do ông có tình cảm gắn bó sâu nặng với người nông dân, đã sống sâu sắc với thời đại, và cũng do ảnh hưởng tác động của thời đại nữa. c) Kết luận: Khẳng định, nhấn mạnh một lần nữa ý tưởng nghệ thuật đã chi phối sâu sắc tới nghệ thuật của truyện ngắn Vợ nhặt, từ việc sáng tạo tình huống, tổ chức kết cấu, miêu tả khung cảnh, miêu tả tâm lí nhân vật. Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, đồng thời cũng là truyện ngắn xuất sắc, xếp vào hàng cổ điển của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn từ 1945 đến 1975.