Phần hai: Giới thiệu một số đề ôn tập-Đề 10

Gợi ý, đáp án

Nguồn website dethi123.com

ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) | Đọc đoạn trích: Căn bệnh tự bào chữa là nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt lớn giữa một người có khả năng và một người bất lực trong kiểm soát hành động và suy nghĩ của chính mình. Một người thành công bao nhiêu, lại càng ít tự biện hộ bấy nhiêu. Còn những người chưa gặt hái được thành quả gì trong hành trang cuộc sống, hoặc không hề có kế hoạch gì cho tương lai thì thường viện dẫn rất nhiều lí do để bào chữa cho hiện trạng của mình. Khi quan sát, tìm hiểu những người dẫn đầu trong bất cứ lĩnh vực nào, dù là kinh doanh, giáo dục hay trong quân đội, bạn sẽ thấy: nếu muốn an phận, họ vẫn có thể đưa ra những lời biện bạch như người bình thường vẫn làm, nhưng họ chẳng bao giờ làm như vậy cả. Quả thực, nếu muốn, Roosevelt có thể viện cớ vào đôi chân tật nguyền của ông, Truman có thể biện bạch ông chưa đề được học đại học, cũng như Kennedy có thể kêu ca: “Tôi quá trẻ, làm sao làm tổng thống được!”; hay Johnson và Eisenhower có thể vin vào những cơn đau tim khủng khiếp thường xuyên để từ chối nhận lãnh trọng trách quốc gia. Cũng giống như bất cứ căn bệnh nào khác, chúng “tự bào chữa” sẽ trở nên – trầm trọng nếu không được chữa trị kịp thời, đúng cách. Thông thường, diễn biến tâm lí của một nạn nhân mắc phải căn bệnh này như sau: “Lẽ ra mình phải làm tốt hơn, phải tìm lí do gì đó mới được, chứ nếu không thì mất mặt lắm. Để xem nào, có thể là do sức khỏe giảm sút? Do tuổi tác? Do hạn chế về mặt kiến thức? Hoặc do chưa đủ kinh nghiệm? Do kém may mắn? Do ảnh hưởng từ chuyện gia đình? Hay do ảnh hưởng từ nền tảng giáo dục?”. Khi đã tìm được “lí do” hợp lí để tự bào chữa, anh ta sẽ bám riết lấy nó để biện minh với chính bản thân mình và với những người xung quanh, rằng đó chính là căn nguyên tại sao anh ta không thể thành công. Bạn nên biết một suy nghĩ, dù tích cực hay tiêu cực, cũng sẽ tạo nên một cường lực nếu được lặp đi lặp lại nhiều lần, sẽ càng lúc càng ăn sâu vào tiềm thức. Lúc đầu, có thể người bệnh hoàn toàn đủ tỉnh táo để nhận ra cái cớ mình đang dùng chẳng khác gì một lời nói dối nhưng lâu dần, chính bản thân anh ta cũng bị thuyết phục rằng đó thực sự là nguyên nhân tại sao anh ta không thể thành công. (Trích Dám nghĩ lớn, David J. Schwartz, Ph.D, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2019, tr. 34-35) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Theo đoạn trích, những người như thế nào thường hay mắc căn bệnh “tự bào chữa”? | Câu 2. Trong đoạn trích, tác giả nhắc đến nhiều đời tổng thống Mĩ. Điểm chung của các nhân vật được tác giả nhắc đến ở đây là gì? . Câu 3. Anh/Chị có đồng tình với cách lí giải của tác giả về diễn biến tâm lí của những người mắc bệnh “tự bào chữa” hay không? Câu 4. Theo anh/chị, tại sao tác giả lại coi “tự bào chữa” là một căn bệnh? II – LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về nhận định: tự bào chữa là mầm mống của thất bại. Câu 2 (5,0 điểm) Phân tích nhân vật Huấn Cao (Chữ người tử tù) và nhân vật người lái đò (Người lái đò Sông Đà) để thấy được sự thống nhất và bước chuyển trong cách tiếp II- LÀM VĂN Câu 1. a) Về hình thức, yêu cầu: – Viết đúng một đoạn văn, khoảng 200 chữ. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu,… . b) Về nội dung, học sinh có thể tự do trình bày quan điểm riêng của mình miễn sao đoạn văn được triển khai một cách tự nhiên, hợp lí và thuyết phục. Có thể tham khảo những gợi ý sau đây để viết đoạn văn: – Những người thất bại luôn mắc phải một căn bệnh tinh thần – đó là căn bệnh “tự bào chữa”. Họ luôn viện dẫn rất nhiều lí do để bao biện cho hiện trạng của mình. Khi đã tìm được lí do “hợp lí” để tự bào chữa, họ sẽ bám riết lấy nó để biện minh với chính bản thân mình và với những người xung quanh. Căn bệnh này thường biểu hiện qua việc đổ lỗi cho sức khỏe, trí tuệ, tuổi tác hay sự may rủi. | – Lí do “sức khỏe không tốt” được nhiều người dùng làm lời bào chữa cho sự thiếu trách nhiệm hoặc không thành công của mình. Tuy nhiên trong thực tế cuộc sống, rất nhiều người có vấn đề về sức khỏe thực sự, nhưng họ vẫn lạc quan và thành công. Vì vậy, việc đổ lỗi cho sức khỏe chỉ để biện hộ cho sự lười nhác của bản thân mình mà thôi. Loại vắc-xin tốt nhất chống lại bệnh này là hãy tránh nhắc đến sức khỏe của bạn. Thuốc giảm đau hiệu nghiệm nhất là hãy thể hiện thái độ lạc quan, sự mãn nguyện và lòng biết ơn về sức khỏe mà chúng ta đang có. | – Chứng bệnh tiếp theo là đổ lỗi cho trí lực. Khi nhắc đến năng lực trí tuệ, bạn hãy nhớ rằng, để giải quyết vấn đề thì cách bạn vận dụng trí thông minh quan trọng hơn nhiều so với lượng trí thông minh bạn có. Chỉ khi có lòng đam mê bạn mới có thể thực hiện công việc đến nơi đến chốn, thiếu sự đam mê, những người đặc biệt thông minh vẫn thất bại. Bởi vậy, để trị lí do tự bào chữa này, bạn hãy sử dụng bộ não để tư duy và phát triển ý tưởng sáng tạo, cố tìm ra con đường mới hơn, hợp lí hơn, bất luận bạn làm hoạt động trong lĩnh vực gì. – Một số người khác thì cho rằng tôi đã quá già” hoặc “tôi còn quá trẻ” để thoái thác hoặc lảng tránh một điều gì đó. Cái cớ này đã làm cho rất nhiều người để vuột mất những cơ hội quý giá có khi chỉ đến một lần trong đời. Hãy tự cứu mình ra khỏi những suy nghĩ tiêu cực về tuổi tác. Khi bạn xua tan được những lo lắng tuổi già, bạn sẽ cảm nhận trong mình sức trẻ và niềm lạc quan vô tận. Cũng vậy, sự ít tuổi chỉ trở thành trở ngại khi nào người trẻ tự ràng buộc mình vào mặc cảm tự ti như thế. ra CO cận và thể hiện con người của Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. câu cầu: Gợi ý, đáp án I- ĐỌC HIỂU Câu 1. Trong đoạn trích, tác giả dùng khái niệm “căn bệnh tự bào chữa” để chỉ những người “bất lực trong kiểm soát hành động và suy nghĩ của chính mình”; “người chưa gặt hái được thành quả gì trong hành trang cuộc sống, hoặc không hề có kế hoạch gì cho tương lai”. Câu 2. Trong đoạn trích, tác giả nhắc đến nhiều đời tổng thống Mĩ (Roosevelt, Truman, Kennedy, Johnson và Eisenhower). Điểm chung giữa họ là dù phải đối diện với những vấn đề khó khăn khác nhau (bị tật nguyền, không được học hành bài bản, thiếu kinh nghiệm, bị bệnh đau tim) nhưng tất cả đều đã vượt qua, dũng cảm vươn lên, nhận lãnh trách nhiệm là người dẫn đầu nước Mĩ. | Câu 3. Học sinh có thể đưa ra ý kiến tán thành/không tán thành/tán thành một phần nhưng phải lí giải một cách thuyết phục và hợp lí. Nhìn chung cách lí giải của tác giả trong đoạn trích là chính xác và có cơ sở. Những người không thành công thường luôn viện dẫn lí do để đổ lỗi hòng che giấu đi sự thiếu quyết tâm, sự nỗ lực, cố gắng vượt lên của bản thân mình. Hành động “tự bào chữa lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ tạo thành một thói quen, khiến cho họ mất đi ý chí, bản lĩnh và sẽ luôn sớm đầu hàng trước khó khăn, thử thách Câu 4. Sở dĩ tác giả coi “tự bào chữa” là một căn bệnh (bệnh về tâm lí) là muốn chúng ta nhận thức điều đó một cách đúng đắn, không để mình rơi vào hoàn cảnh ấy, không thể cứ tùy tiện viện dẫn lí do cho những thất bại của mình. Khi đối diện với thất bại, chúng ta phải chú trọng tìm ra lí do chính đáng, để khắc phục nó và vươn lên chứ không phải luôn nghĩ cách tìm ra lí do để đổ lỗi và thoái thác trách nhiệm của mình. II- LÀM VĂN Câu 1. a) Về hình thức, yêu cầu: – Viết đúng một đoạn văn, khoảng 200 chữ. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu,… . b) Về nội dung, học sinh có thể tự do trình bày quan điểm riêng của mình miễn sao đoạn văn được triển khai một cách tự nhiên, hợp lí và thuyết phục. Có thể tham khảo những gợi ý sau đây để viết đoạn văn: – Những người thất bại luôn mắc phải một căn bệnh tinh thần – đó là căn bệnh “tự bào chữa”. Họ luôn viện dẫn rất nhiều lí do để bao biện cho hiện trạng của mình. Khi đã tìm được lí do “hợp lí” để tự bào chữa, họ sẽ bám riết lấy nó để biện minh với chính bản thân mình và với những người xung quanh. Căn bệnh này thường biểu hiện qua việc đổ lỗi cho sức khỏe, trí tuệ, tuổi tác hay sự may rủi. | – Lí do “sức khỏe không tốt” được nhiều người dùng làm lời bào chữa cho sự thiếu trách nhiệm hoặc không thành công của mình. Tuy nhiên trong thực tế cuộc sống, rất nhiều người có vấn đề về sức khỏe thực sự, nhưng họ vẫn lạc quan và thành công. Vì vậy, việc đổ lỗi cho sức khỏe chỉ để biện hộ cho sự lười nhác của bản thân mình mà thôi. Loại vắc-xin tốt nhất chống lại bệnh này là hãy tránh nhắc đến sức khỏe của bạn. Thuốc giảm đau hiệu nghiệm nhất là hãy thể hiện thái độ lạc quan, sự mãn nguyện và lòng biết ơn về sức khỏe mà chúng ta đang có. | – Chứng bệnh tiếp theo là đổ lỗi cho trí lực. Khi nhắc đến năng lực trí tuệ, bạn hãy nhớ rằng, để giải quyết vấn đề thì cách bạn vận dụng trí thông minh quan trọng hơn nhiều so với lượng trí thông minh bạn có. Chỉ khi có lòng đam mê bạn mới có thể thực hiện công việc đến nơi đến chốn, thiếu sự đam mê, những người đặc biệt thông minh vẫn thất bại. Bởi vậy, để trị lí do tự bào chữa này, bạn hãy sử dụng bộ não để tư duy và phát triển ý tưởng sáng tạo, cố tìm ra con đường mới hơn, hợp lí hơn, bất luận bạn làm hoạt động trong lĩnh vực gì. – Một số người khác thì cho rằng tôi đã quá già” hoặc “tôi còn quá trẻ” để thoái thác hoặc lảng tránh một điều gì đó. Cái cớ này đã làm cho rất nhiều người để vuột mất những cơ hội quý giá có khi chỉ đến một lần trong đời. Hãy tự cứu mình ra khỏi những suy nghĩ tiêu cực về tuổi tác. Khi bạn xua tan được những lo lắng tuổi già, bạn sẽ cảm nhận trong mình sức trẻ và niềm lạc quan vô tận. Cũng vậy, sự ít tuổi chỉ trở thành trở ngại khi nào người trẻ tự ràng buộc mình vào mặc cảm tự ti như thế. ra CO – Cuối cùng, người ta cũng hay đổi lỗi cho “may rủi”. Không bao giờ có một con đường thành công mà không cần nỗ lực. Bởi vậy, hãy chấp nhận quy luật nhân quả. Thành công luôn phát xuất từ sự chuẩn bị kĩ càng, biết lên kế hoạch và có quyết tâm hướng tới mục tiêu mà mình mong muốn. . Câu 2. Bài viết cần làm rõ được những nội dung chính sau: 1. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Sự thống nhất và thay đổi trong cách tiếp cận và thể hiện con người của Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945 thông qua nhân vật Huấn Cao và nhân vật người lái đò sông Đà. , . 2. Yêu cầu: Bài làm đảm bảo yêu cầu về kết cấu ba phần: mở bài – thân bài – kết bài. Thí sinh có thể trình bày theo hệ thống ý riêng nhưng cần có luận điểm rõ rang; diễn đạt mạch lạc, trôi chảy, có sáng tạo. Bài viết có thể triển khai theo từng luận điểm so sánh các phương diện của hai tác phẩm, hoặc làm rõ vấn đề nghị luận ở từng đoạn và so sánh khái quát, nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau đây. a) Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm. ta – Nguyễn Tuân (1910-1987) là một nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp. Trước Cách mạng, ông quan niệm cái đẹp chỉ có trong quá khứ “vang bóng một thời” và tài hoa nghệ sĩ chỉ có ở những con người xuất chúng của thời trước còn vương sót lại. Còn sau Cách mạng, ông không đối lập quá khứ với hiện tại. Ông quan niệm cái đẹp có cả ở quá khứ và hiện tại, đặc biệt phẩm chất tài hoa có thể có ở cả nhân dân đại chúng. 1 – Tác phẩm Chữ người tử tù xoay quanh nhân vật Huấn Cao, một con người thuộc lớp nhà nho tài hoa bất đắc chí, tuy đã thất thế, nhưng không chịu làm hoà với xã hội thực dân, một nhân vật đầy khí phách, ngang tàng và có tài. Trong khi đó hình ảnh người lái đò trong tuỳ bút Người lái đò Sông Đà lại tiêu biểu cho bức chân dung con người lao động của Nguyễn Tuân sau Cách mạng tháng Tám, một nhân vật không chỉ là người công dân giàu phẩm chất mà còn là một con người tài hoa nghệ sĩ, mang tư thế sang trọng và đẹp đẽ. | b) Phân tích hai nhân vật để làm rõ vấn đề: sự thống nhất và bước chuyển trong cách tiếp cận và thể hiện con người của Nguyễn Tuân. . * Nhân vật Huấn Cao – Chữ người tử tù (1940) là truyện ngắn xuất sắc nhất của Nguyễn Tuân viết trước Cách mạng, rút từ tập Vang bóng một thời. Đây là truyện ngắn có nội dung tư tưởng sâu sắc và có nhiều thành công về phương diện nghệ thuật. Giá trị tư tưởng và nghệ thuật bộc lộ tập trung trong hình tượng nhân vật Huấn Cao. – Cũng như các nhân vật trong Vang bóng một thời, vẻ đẹp của Huấn Cao trước hết là vẻ đẹp của con người tài hoa, nghệ sĩ: | + Huấn Cao có tài viết chữ đẹp. Huấn Cao là đại diện cho thế hệ nhà nho, in đậm dấu ấn của thời Hán học. Chữ Huấn Cao viết là chữ nho, một loại chữ giàu chất tạo hình mà qua đó, bộc lộ cái tâm, cái chí của người viết chữ. Đó là một nghệ thuật cho thấy cái tài và cả cốt cách của con người nho học. + Huấn Cao là một nghệ sĩ rất mực tài hoa trong nghệ thuật viết chữ: “Tài viết chữ rất nhanh và đẹp” của ông nổi tiếng khắp cả tỉnh Sơn. Ngay cả viên quản ngục của một huyện nhỏ vô danh cũng biết: “Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm… Có được chữ ông Huấn mà treo là có một vật báu trên đời”. Để có được chữ của Huấn Cao, viên quản ngục đã dụng công, liều mạng biệt đãi Huấn Cao, một kẻ tử tù, bất chấp đó là việc làm nguy hiểm, có khi phải trả giá bằng tính mạng của mình. Sự trân trọng, vì cái đẹp của viên quản ngục cũng là cách Nguyễn Tuân tỏ bày sự thiên vị với cái đẹp của thời trước, với những phong tục đẹp cũng như những cách ứng xử đẹp giữa người với người. – – Huấn Cao còn là con người có “thiên lương” trong sáng, cao đẹp: + Huấn Cao có tài viết chữ, nhưng không phải ai ông cũng cho chữ, ông chỉ cho chữ những người biết quý cái đẹp, cái tài. + Ban đầu, ông tỏ thái độ khinh bạc với viên quản ngục, nhưng rồi, khi hiểu ra viên quản ngục và thầy thơ lại thành tâm xin chữ, ông đã “cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của quản ngục và thơ lại. Vì thế, mới có “cảnh tượng trước nay chưa từng có”, một người tử tù viết chữ trong ngục tù, để không phụ một tấm lòng trong thiên hạ. – Huấn Cao còn đẹp hơn nữa ở phẩm chất bất khuất, hiên ngang: – + Huấn Cao dám chống lại triều đình mà ông căm ghét, khinh bỉ. Dù chí lớn không thành, nhưng tư thế, tâm thế Huấn Cao bao giờ cũng đường hoàng, hiên ngang, bất khuất. + Là kẻ tử tù, nhưng ông không chút run sợ trước vận mệnh ắt phải chết. Giữa chốn lao tù đầy tử khí, ông vẫn thản nhiên nhắm rượu thịt do thơ lại mang đến “coi như đó là một việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình”, luôn trong tư thế ung dung, đĩnh đạc đường hoàng, ngang tàng kiêu dùng của một bậc anh hùng. . – Khái quát về cách tiếp cận, khắc hoạ chân dung con người của Nguyễn Tuân trong Chữ người tử tù: + Nhân vật Huấn Cao bộc lộ lí tưởng thẩm mĩ về con người của Nguyễn Tuân: Sự thống nhất của cái tài, cái tâm và khí phách con người. Huấn Cao là biểu tượng cho sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của cái đẹp, cái cao cả đối với cái phàm tục, dơ bẩn. + Xây dựng nhân vật theo bút pháp lãng mạn: Tác giả đặt nhân vật vào trong một tình huống độc đáo, nghệ thuật dựng cảnh, sử dụng triệt để thủ pháp tương phản để làm nổi bật con người với những phẩm chất mà ông quan niệm. : * Nhân vật người lái đò . . – Tuỳ bút Người lái đò Sông Đà là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của Nguyễn Tuân viết sau Cách mạng, được in trong tập Sông Đà (1960). Nhân vật người lái đò trong tác phẩm là hình tượng con người lao động tiêu biểu trong thời đại mới, nhưng vẫn mang những nét đặc trưng, thể hiện trong cách tiếp cận con người và quan niệm về con người của Nguyễn Tuân – đó là con người tài hoa, nghệ sĩ. – Ông lái đò là người rất mực tài trí, dũng cảm trong những chuyến vượt thác đầy hiểm nguy: + Khung cảnh lao động đầy thử thách khốc liệt: “nước thở và kêu như cống bị sặc”, “không thuyền nào dám men gần”, “cuộc sống của người lái đò là cuộc sống hằng ngày chiến đấu với thiên nhiên”, nhưng nhân vật ông lái đò vô cùng hiện ngang, trí dũng trong cuộc chiến đấu với những con sóng, con thác đầy hung dữ, nguy hiểm. + Cuộc vượt thác, dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân diễn ra như một trận đánh dữ dội có nhiều hồi, nhiều đợt, mỗi đợt lại có những thử thách ác liệt khác nhau, dòng sông bày ra những “thạch trận” hiểm hóc khác nhau. + Nguyễn Tuân đã huy động kho từ vựng về quân sự, võ thuật, điện ảnh để miêu tả cuộc thuỷ chiến ác liệt giữa người lái đò và sóng thác sông Đà. Có lúc tưởng như ông lái đò sẽ bị con thuỷ quái sông Đà vô cùng hung bạo ấy nuốt chửng. Nhưng ông lái đò vẫn không hề nao núng, trái lại vẫn bình tĩnh, chủ động chiến đấu một cách dũng cảm, đầy mưu trí. . – Một con người tài hoa nghệ sĩ: + Ông lái đò mang phong thái ung dung, pha chút nghệ sĩ, một nghệ sĩ có nghệ thuật chở đồ kì diệu. + Ông lái đò thuộc làu binh pháp của thần sông, thần đá, thuộc lòng các luồng sinh, luồng tử mà chủ động, điềm tĩnh, không nao núng, điều khiển con đò trong một tâm thế hoàn toàn chủ động, thanh thoát, tự do. Nguyễn Tuân gọi người lái đò là người có “tay lái ra hoa” là như vậy. – Ông lái đò là đại diện cho cách tiếp cận và thể hiện con người của Nguyễn Tuân sau Cách mạng: + Trước Cách mạng, Nguyễn Tuân được xem là nhà văn có quan điểm duy mĩ khi ông thường chỉ tập trung viết về đề tài “xê dịch”, về vẻ đẹp vang bóng và đề tài hưởng lạc. Sau Cách mạng, ngòi bút của ông có sự rộng mở trong cái nhìn con người, hướng ngòi bút của mình đến những con người lao động bình thường để tìm tòi cái đẹp trong chính những con người đời thường ấy. | + Nguyễn Tuân phát hiện ra vẻ đẹp tài hoa có ngay ở những con người lao động, ông gọi đó là “thứ vàng mười đã qua thử lửa”. c) Tìm điểm tương đồng, khác biệt giữa hai nhân vật để thấy được sự thống nhất, thay đổi trong cách tiếp cận và thể hiện con người của Nguyễn Tuân. – Bước chuyển trong quan niệm về con người: + Trước Cách mạng: Nhân vật của Nguyễn Tuân là những con người thuộc về một thời vang bóng, vì thế nếu họ còn trong hiện tại thì cũng bơ vơ, lạc lõng như kẻ “sinh làm thế kỉ”. Thế giới nhân vật mà ông ưa thích hầu hết là những con người đẹp đẽ, phi thường nhưng thuộc về quá khứ, thuộc về cái thời vang bóng ấy. + Sau Cách mạng, ông không còn chỉ hướng ngòi bút vào những con người của quá khứ, mà là con người của hiện tại: những người lao động bình thường, con người của quần chúng. Ông phát hiện ra chất tài hoa nghệ sĩ không chỉ có ở những nhân vật phi thường, mà ở cả những người dân bình thường nhất. – Sự thống nhất: Dù ở giai đoạn trước hay sau Cách mạng, các nhân vật của Nguyễn Tuân bao giờ cũng được tiếp cận và miêu tả ở góc độ tài hoa nghệ sĩ trong công việc của mình. Điều đó làm nên sự nhất quán trong cách tiếp cận và thể hiện con người của Nguyễn Tuân: Luôn khao khát tìm kiếm cái đẹp, nâng niu, trân trọng chất tài hoa, nghệ sĩ bên trong con người. —