Đề thực hành luyện tập thi THPT quốc gia môn Ngữ văn – Đề 16

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu:

Em hiểu rằng mỗi lúc đi xa 

Tình anh đối với em là xứ sở 

Là bóng rợp trên con đường nắng lửa

Trái cây thơm trên miền đất khô cằn

Đấy tình yêu, em muốn nói cùng anh: 

Nguồn gốc của muôn ngàn khát vọng 

Lòng tốt để duy trì sự sống 

Cho con người thực sự Người hơn.

(Xuân Quỳnh, Nói cùng anh, in trong Không bao giờ là cuối, NXB Hội Nhà văn, H., 2013)

Câu 1 Nhân vật trữ tình trong đoạn thơ trên là ai ? 

Câu 2 Nêu tác dụng của 01 phép tu từ được sử dụng ở khổ thơ thứ nhất trong

đoạn trích. 

Câu 3 Vì sao nhà thơ viết hoa chữ “Người” ở dòng thơ cuối cùng của đoạn thơ trên? 

Câu 4 Anh/ Chị có đồng tình với quan niệm về tình yêu của Xuân Quỳnh ở khổ thơ thứ hai hay không? Vì sao?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Từ nội dung đoạn thơ ở phần Đọc hiểu, anh chị hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày quan niệm của mình về một tình yêu đẹp. 

Câu 2 (5,0 điểm)

Phân tích bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô trong trích đoạn Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích vở kịch Vũ Như Tô) của Nguyễn Huy Tưởng.

GỢI Ý VÀ HƯỚNG DẪN

I. ĐỌC HIỂU 

Câu 1 Nhân vật trữ tình trong đoạn thơ trên là “em”.

Câu 2 Khổ thơ thứ nhất có sử dụng biện pháp tu từ so sánh (Tình anh đối với em là xứ sở Là bóng rợp trên con đường nắng lửa/ Trái cây thơm trên miền đất khô cằn). Biện pháp này nhấn mạnh ý nghĩa của tình yêu mà “anh” dành cho “em”, khiến “em” cảm thấy được che chở, bảo vệ, nâng niu,… HS có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí.

Câu 3 Nhà thơ viết hoa chữ “Người” ở dòng thơ Cho con người thực sự Người hơn để nhấn mạnh sự cao quý, tốt đẹp của con người khi được sống trong tình yêu. HS có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí.

 Câu 4 Trước hết, cần nêu được quan niệm của Xuân Quỳnh về tình yêu: tình yêu làm nảy sinh những khát vọng mong ước cao đẹp), động lực để con người duy trì sự sống và sống nhân văn hơn, đẹp hơn. Từ đó, HS bày tỏ sự đồng tình, phản đối hoặc vừa đồng tình vừa phản đối quan niệm trên. Nội dung câu trả lời phải thuyết phục, không đi ngược lại những giá trị đạo đức và nhân văn đã được khẳng định

II. LÀM VĂN 

Câu 1 HS cần viết được 01 đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ), theo một trong các cách diễn dịch, quy nạp hoặc tông – phân – hợp…; sử dụng một trong các thao tác lập luận giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ… hoặc kết hợp các thao tác này; lí lẽ và dẫn chứng hợp lí, đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu… để trình bày quan niệm riêng của mình về một tình yêu đẹp.

Có thể trả lời các câu hỏi sau để tìm ý cho đoạn văn:

 – Thế nào là một tình yêu đẹp? 

 – Một tình yêu đẹp biểu hiện như thế nào? 

– Tình yêu đẹp mang đến cho con người điều gì? 

– Làm thế nào để có hoặc gìn giữ được một tình yêu đẹp?

Câu 2. Để thực hiện yêu cầu của đề bài, trước hết HS cần hiểu rõ khái niệm “bi kịch”, từ đó, vận dụng vào việc tìm hiểu nhân vật Vũ Như Tô trong toàn bộ vở kịch, tập trung hơn cả vào đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài đã được học. Bài viết cần nêu được các y như sau:

a) Giới thiệu về tác gia, tác phẩm 

– Giới thiệu tác giả Nguyễn Huy Tưởng và vở kịch Vũ Như Tô.

– Giới thiệu nhân vật Vũ Như Tô: Đây là nhân vật trung tâm của vở kịch – một kiến trúc sư thiên tài. Vốn là một nghệ sĩ chân chính, gắn bó với nhân dân. song vì mượn quyền lực và tiền bạc của bạo chúa để thực hiện khát vọng của minh mà Vũ Như Tô đã rơi vào bi kịch. Đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài đã tập trung làm nổi bật bi kịch ấy của ông.

b) Giải thích khái niệm “bi kịch” và nêu khái quát bi kịch của Vũ Như Tô

– “Bi kịch” là “tình cảnh éo le, mâu thuẫn đến đau thương” 17à nhân vật rơi vào và không thể điều hoà được. Mâu thuẫn này diễn ra căng thẳng và quyết liệt đến mức nhân vật thường chỉ thoát ra khỏi nó bằng cái chết bi thảm, gây nên những suy tư và tác động mạnh mẽ đối với công chúng.

– Bi kịch của Vũ Như Tô: vốn là một nghệ sĩ chân chính, có tài năng, Vũ Như Tỏ có khát vọng nghệ thuật cao cả, song lại rơi vào một mâu thuẫn không thể hoá giải nổi: mâu thuẫn giữa tài năng, ước vọng cao ca, niềm khát khao và đam mê sáng tạo nghệ thuật với thực tế phũ phàng, ngang trái của xã hội.

c) Phân tích bi kịch của Vũ Như Tô

– Vẻ đẹp của con người Vũ Như Tô:

+ Có tài năng: là một kiến trúc sư tài ba “ngàn năm chưa dễ c) một”. Nghệ sĩ ấy có thể “sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân, có thể xây dựng những lâu đài cao cả, nóc vờn mấy mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ”. Ông “chỉ vậy bút là chim, hoa đã hiện trên mảnh lụa thần tình biến hoá như canh Hoá Công”. Theo đánh giá cua cung nữ Đan Thiềm thì đó là cái tài trời phú vì có thể đem ra để điểm tô cho đất nước.

+Có khát vọng cao ca, lớn lao: “đem hết tài ra xây cho nòi giống một toà đài hoa lệ, thách ca những công trình sau trước, tranh tinh xảo với hóa công”. Xây (Cửu Trùng Đài với Vũ Như Tô vừa là để bộc lộ trọn vẹn cái tài trời phú, vừa là để thực hiện giấc mộng lớn – giấc mộng sáng tạo một công trình nghệ thuật kì vì, mĩ lệ, “cao ca, huy hoàng”, “cảnh Bồng Lai” giữa cõi trần cao lực, vừa để bằng chính kì công muôn thuở ấy mà điểm tô cho đất nước. Đài Cửu Trùng chính là tâm huyết, là linh hồn của Vũ Như Tô: “Tôi sống với Cửu Trùng Đài, chết cũng với Cửu Trùng Đài. Tôi không thể xa Cửu Trùng Đài một bước. Hồn tôi để cả đây…”.

+ Có bản lĩnh cứng cỏi, mạnh mẽ: trước đây, khi mới bị Lê Tương Dực bắt về để xây Cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô đã không chịu khuất phục trước uy quyền của bạo chúa. Theo lời khuyên của Đan Thiềm, Vũ Như Tô đã chấp nhận mượn tay Lê Tương Dực, dựa vào quyền thế và tiền bạc của hắn để thực hiện khát vọng nghệ thuật của mình. Khi xảy ra loạn lạc, Vũ Như Tô không nghe theo lời khuyên của Đan Thiềm, không bỏ trốn mà kiên quyết ở lại để bảo vệ Cư Trùng Đài: “Người quân tử không bao giờ sợ chết. Mà vạn nhất có chết, thì cũng phải để cho mọi người biết rằng công việc mình làm chính đại quang minh”. Nghĩa là, bạn lĩnh của Vũ Như Tô là bản lĩnh của một người nghệ sĩ dám dốc sức, lồn tài năng, tâm huyết – nghệ thuật, sẵn sàng chết để bảo vệ cái đẹp.

– Thực tế đời sống:

+ Mục đích và bản chất của tầng lớp vua quan: Lê Tương Dực cũng khao khát xây Cửu Trùng Đài song không phải là để tạo cho đất nước một công trình nghệ thuật mà chỉ đơn giản là để làm nơi vui chơi với các cung nữ. Đài Cửu Trùng trong mục đích của Lê Tương Dực chính là hiện thân của cuộc sống xa hoa đầy lạc thú. Nó sẽ tiêu tốn tiền của công khố, bòn rút mồ hôi xương máu của nhân dân.

+ Cuộc sống của nhân dân khi Cửu Trùng Đài được xây dựng: vô cùng lầm than, khốn khổ (“mấy nghìn người chết vì Cửu Trùng Đài, mẹ mất con, vợ mất chồng”). Tình cảnh khốn cùng ấy tất sinh biến loạn: khi quân phản nghịch nổi lên, thợ xây Cửu Trùng Đài quá nửa theo về quân phản nghịch.

– Bi kịch của Vũ Như Tô trong đoạn trích:

+ Bị hiểu lầm và kết tội: Vì mượn tay Lê Tương Dực để thực hiện khát vọng nghệ thuật của mình nên Vũ Như Tô bị đánh đồng với ke xa hoa tàn ác, với tên hôn quân bạo chúa, bị coi là kẻ gây tội ác. “Ai ai cũng cho ông là thủ phạm. Vua xa xỉ là vì ông, công khố hao hụt là vì ông, dân gian lầm than là vì ông, man di oán giận là vì ông, thần nhận trách móc là vì ông”. Trong hoàn cảnh ấy, cả Vũ Như Tô và Cửu Trùng Đài đã trở thành mục tiêu của sự oán giận, trở thành đối tượng để nhân dân và quân phiến loạn tàn phá, huỷ hoại. Chỉ có Đan Thiềm là người duy nhất hiểu được khát vọng và quý trọng tài năng của công nhưng Đan Thiềm cùng hoàn toàn bất lực, không thể khuyên nhủ, cũng không thể bảo vệ được Vũ Như Tô.

+ Bị vỡ mộng: Cho đến phút cuối cùng, Vũ Như Tô vẫn không thể hiểu và không thể tin rằng việc mình làm là trái với quyền lợi của nhân dân, vẫn một mực khẳng định rằng mình không có tội và không thể hiểu vì sao dân chúng lại nổi lên phá Cửu Trùng Đài, không hiểu vì sao xây dựng Cửu Trùng Đài lại là việc làm hại nước, hại dân. Điều bị thương nhất của Vũ Như Tô là sự lạc lõng của ông giữa những ke nông nổi và tàn ác, là sự cô đơn đến đáng thương trước lòng hận thù của nhân dân. Khi Cửu Trùng Đài bị đốt cháy cũng là lúc Vũ Như Tô vỡ mộng, bừng tỉnh, đau đớn đến tuyệt vọng: “Trời ơi! Phú cho ta cái tài làm gì? Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài!”.

d) Nguyên nhân và ý nghĩa của bi kịch

– Nguyên nhân của bi kịch: Do Vũ Như Tô quá chìm đắm trong niềm đam mê cái đẹp nên đã mơ mộng, ảo tưởng khi mượn tay Lê Tương Dực để xây Cửu Trùng Đài. Khát vọng nghệ thuật của ông là cao đẹp nhưng lại đặt nhầm chỗ, lầm thời và xa rời thực tế nên phải trả giá bằng cả sinh mạng và cả công trình nghệ thuật. Vũ Như Tô là hiện thân của tài năng, nhân cách và hoài bão lớn lao nhưng vì đi ngược lại với quyền lợi trực tiếp của nhân dân nên đã lâm vào bi kịch.

– Ý nghĩa bi kịch của Vũ Như Tô: thể hiện vấn đề sâu sắc và có ý nghĩa muôn thuở về cái đẹp, về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ và nhân dân, giữa những khát vọng nghệ thuật muôn thuở với quyền lợi trực tiếp của quần chúng

e) Nhận xét, đánh giá

– Tài năng, khát vọng nghệ thuật của người nghệ sĩ rất đáng trân trọng song họ cần phải gắn bó với nhân dân; nghệ thuật chân chính phải xuất phát từ mục đích vì cuộc sống, vì con người. Chỉ khi giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, giữa nghệ sĩ và nhân dân thì nghệ thuật mới có cơ sở để tồn tại và phát triển.

– Vũ Như Tô chính là điển hình của mẫu nghệ sĩ có tài năng, có nhân cách, có hoài bão lớn lao, đẹp đẽ, song vì xa rời thực tế, ảo tương nên đã rơi vào bi kịch. Bi kịch của Vũ Như Tô có ý nghĩa như một bài học thức tính những người nghệ sĩ đồng bệnh với ông.

Nguồn website dethi123.com